Đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số giai đoạn 2026 - 2035 đặt trọng tâm mở rộng cơ hội học tập bậc cao đẳng, đại học cho thanh niên vùng dân tộc và miền núi; đồng thời, lựa chọn, bồi dưỡng lực lượng có tiềm năng để trở thành nguồn nhân lực nòng cốt cho phát triển địa phương.

Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026 - 2035, định hướng đến năm 2045” phấn đấu tuyển mới hằng năm 2.000 - 2.500 sinh viên là người dân tộc thiểu số.
PGS.TS Hồ Văn Thống - Hiệu trưởng Trường Đại học Đồng Tháp cho rằng, mục tiêu này khả thi, vì nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng dân tộc thiểu số đang rất lớn; các ngành trọng điểm (giáo dục, y tế, công nghệ thông tin, quản lý công, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch…) mở ra nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn. Đồng thời, Nhà nước có nhiều chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển giáo dục – đào tạo cho người dân tộc thiểu số theo hướng toàn diện, bền vững.
Bên cạnh đó, hệ thống các trường đại học, học viện ngày càng hoàn thiện về năng lực đào tạo, có kinh nghiệm triển khai chương trình đào tạo theo đặt hàng, học bổng, hỗ trợ sinh viên vùng khó khăn. Tuy nhiên, để hoàn thành chỉ tiêu này, vẫn còn nhiều áp lực từ nguồn tuyển đầu vào, điều kiện kinh tế - xã hội, tâm lý người học và năng lực của các cơ sở đào tạo.
Chia sẻ thuận lợi của Trường Đại học Đồng Tháp khi triển khai chủ trương này, PGS.TS Hồ Văn Thống nhắc đến chính sách vĩ mô thuận lợi: Cơ chế đặc thù của Đảng, Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi; có sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương tạo hành lang pháp lý rõ ràng.
Cùng đó là nhu cầu nhân lực lớn, các địa phương miền núi đang thiếu nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện để người học có định hướng rõ ràng hơn về việc làm sau khi tốt nghiệp. Thêm đó là uy tín và năng lực đào tạo của Nhà trường với hệ thống chương trình đào tạo ngày càng chuẩn hóa, có khả năng xây dựng các chương trình đào tạo theo nhu cầu xã hội, theo đặt hàng.
Cuối cùng là yếu tố xã hội, tâm lý tích cực. Nhận thức của nhiều gia đình dân tộc thiểu số đã thay đổi theo hướng coi giáo dục là con đường quan trọng để thoát nghèo bền vững.

Bên cạnh thuận lợi, những khó khăn cũng được PGS.TS Hồ Văn Thống dự báo. Một là nguồn tuyển đầu vào hạn chế, không đồng đều. Số học sinh dân tộc thiểu số tốt nghiệp THPT đủ điều kiện vào đại học không nhiều, chênh lệch chất lượng giáo dục giữa vùng dân tộc thiểu số và đô thị còn lớn.
Hai là điều kiện kinh tế, chi phí sinh hoạt, học tập, tâm lý e ngại xa nhà… ảnh hưởng đến quyết định học đại học.
Ba là một bộ phận sinh viên dân tộc thiểu số gặp khó về tiếng Việt học thuật, kỹ năng mềm, phương pháp học đại học.
Bốn là năng lực hỗ trợ sinh viên của một vài trường còn hạn chế; cụ thể, ký túc xá, học bổng, hỗ trợ học tập - tâm lý, chương trình phụ đạo… chưa đáp ứng đủ quy mô lớn, một số chương trình đào tạo chưa thật sự “gần” với nhu cầu thực tế vùng dân tộc thiểu số.
Ở một góc nhìn khác, theo ông Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh (Trường Đại học Mở Hà Nội), con số 2.000 - 2.500 sinh viên/năm xét trên quy mô dân số dân tộc thiểu số và quy mô tuyển sinh đại học cả nước không quá lớn về số lượng, nhưng lại là thách thức lớn về mặt chất lượng.
Vì đây là đào tạo “chất lượng cao” trong các “ngành trọng điểm” (thường là công nghệ cao, y tế chuyên sâu, nông nghiệp công nghệ cao, quản trị...), đòi hỏi đầu vào khắt khe hơn nhiều so với hệ cử tuyển truyền thống.
“Sự bùng nổ của chuyển đổi số giáo dục tạo thuận lợi cho các trường đại học tiếp cận người học ở vùng sâu, xa mà không cần di dân cơ học quá lớn ngay từ đầu. Cùng với đó, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được quan tâm. Chất lượng học sinh tại các trường dân tộc nội trú ngày càng tốt lên, là nguồn tuyển sinh chính cho Đề án.
Tuy nhiên, cũng có những khó khăn, thách thức cần phải vượt qua. Học sinh dân tộc thiểu số thường gặp rào cản về ngoại ngữ (tiếng Anh) và các môn khoa học tự nhiên (Toán, Vật lí, Hóa học) - nền tảng của các ngành trọng điểm. Chi phí sinh hoạt tại các thành phố lớn cũng là một khó khăn đối với sinh viên người dân tộc thiểu số”, ông Đỗ Ngọc Anh phân tích.

Để tuyển mới và giữ chân được 2.000 - 2.500 sinh viên chất lượng cao mỗi năm, cần một cách tiếp cận đa dạng, đặc biệt là tận dụng công nghệ. Nhấn mạnh điều này, ông Đỗ Ngọc Anh nhắc đến giải pháp về phương thức đào tạo với mô hình Hybrid & E-learning.
Theo đó, thay vì yêu cầu 100% sinh viên về thành phố học tập trung, các trường cần triển khai chương trình đại học trực tuyến chất lượng cao, thiết kế các mô - đun lý thuyết học online kết hợp với hệ thống hỗ trợ học tập (LMS) mạnh mẽ. Sinh viên có thể học tại địa phương, giảm chi phí sinh hoạt.
Cùng đó là mô hình đào tạo kết hợp (blended learning), trong đó khoảng 70% học trực tuyến hoặc từ xa, 30% học tập trung (thực hành, thí nghiệm) tại trường ở địa phương. Đồng thời, cần công nhận tín chỉ linh hoạt, cho phép học sinh giỏi trường dân tộc nội trú tích lũy tín chỉ đại học qua hệ thống E-learning ngay từ lớp 11, 12.
Giải pháp “tạo nguồn” cũng cần được quan tâm. Theo đó, giai đoạn dự bị đại học nâng cao, tập trung vào tiếng Anh chuyên ngành và kỹ năng mềm, kỹ năng số để đảm bảo các em theo kịp chương trình chất lượng cao.
PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (ĐHQG Hà Nội) nhấn mạnh vai trò quan trọng của các trường dự bị đại học dân tộc. Đó là nơi thu hẹp khoảng cách học thuật một cách bài bản. Nếu được thiết kế lại theo hướng chuẩn hóa, các trường dự bị có thể đảm nhiệm hiệu quả chương trình bồi dưỡng 6-12 tháng về tiếng Việt học thuật, toán và khoa học cơ bản, giúp sinh viên bước vào đại học với tâm thế, năng lực tốt hơn.
Đây cũng chính là không gian “đệm” về văn hóa và tâm lý; giai đoạn sinh viên dân tộc thiểu số làm quen dần với phương pháp học đại học, đời sống đô thị, sự đa dạng văn hóa, trước khi bước vào môi trường cạnh tranh cao hơn.
Để thực hiện mục tiêu này, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, cần nhìn các trường dự bị như một mắt xích trong hệ sinh thái đại học, không phải đơn vị tách rời. Việc đồng thiết kế chương trình, chia sẻ giảng viên, dữ liệu học tập và cơ chế chuyển tiếp liền mạch với các trường đại học là giải pháp mang tính quyết định.
Đưa ra các giải pháp cụ thể, PGS.TS Hồ Văn Thống nhấn mạnh bốn nhóm vấn đề trọng tâm. Trước hết là nhóm giải pháp về tuyển sinh và tạo nguồn. Theo đó, các cơ sở giáo dục cần tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương, các trường phổ thông dân tộc nội trú thông qua ký kết các chương trình tạo nguồn dài hạn; tổ chức tư vấn hướng nghiệp, thi thử, hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ cho học sinh.
Đồng thời, cần đa dạng hóa phương thức tuyển sinh như xét học bạ, ưu tiên xét tuyển theo diện chính sách, đào tạo theo hình thức đặt hàng của địa phương. Công tác truyền thông tuyển sinh cũng cần được thiết kế phù hợp với đặc thù văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, dễ tiếp cận, thông qua vai trò của trưởng bản, già làng và các cán bộ đoàn thể tại địa phương.
Hai là, nhóm giải pháp hỗ trợ tài chính - an sinh thông qua tăng học bổng đặc thù, học bổng xã hội hóa; hỗ trợ ký túc xá giá rẻ, trợ cấp sinh hoạt, suất ăn học đường; chính sách tín dụng ưu đãi rõ ràng, linh hoạt.
Ba là, nhóm giải pháp về học thuật và hỗ trợ người học. Theo đó, cần triển khai các chương trình dự bị và tăng cường nhằm bổ trợ cho sinh viên các kiến thức nền tảng như tiếng Việt học thuật, Toán học, công nghệ thông tin cơ bản, cùng các kỹ năng cần thiết để thích ứng với môi trường đại học.
Song song với đó là xây dựng mô hình gia sư, cố vấn học tập (mentor), kết nối giảng viên và sinh viên khóa trên để hỗ trợ, đồng hành cùng người học trong quá trình học tập. Các cơ sở đào tạo cũng cần chú trọng tăng cường giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời quan tâm đến công tác chăm sóc tâm lý và hỗ trợ thích nghi thông qua việc hình thành hoặc củng cố các trung tâm tư vấn dành riêng cho sinh viên dân tộc thiểu số.
Bốn là, nhóm giải pháp về đào tạo gắn với việc làm: Xây dựng chương trình đào tạo gắn địa chỉ việc làm tại địa phương hoặc doanh nghiệp; khuyến khích mô hình đào tạo theo đặt hàng của tỉnh; tăng cường thực tập, thực tế tại vùng dân tộc thiểu số; liên kết doanh nghiệp tạo cơ hội việc làm ngay sau tốt nghiệp.

Đưa đề xuất, kiến nghị để nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ này, PGS.TS Hồ Văn Thống cho rằng, trong bối cảnh mới, cơ quan quản lý Nhà nước cần ưu tiên tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù ổn định, dài hạn cho đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số; tăng chỉ tiêu ngân sách, học bổng, tín dụng ưu đãi cho sinh viên dân tộc thiểu số.
Đồng thời, hỗ trợ các trường xây dựng trung tâm hỗ trợ sinh viên dân tộc thiểu số (ký túc xá, trung tâm dự bị đại học, trung tâm tư vấn - hỗ trợ học tập); có cơ chế đặt hàng nhân lực rõ ràng giữa tỉnh, bộ ngành, trường đại học; có chính sách thu hút, sử dụng nhân lực sau đào tạo, bảo đảm sinh viên yên tâm học tập, cống hiến.
Quan tâm đến giải pháp công nghệ, ông Đỗ Ngọc Anh kiến nghị cơ chế tài chính đặc thù cho E-learning. Theo đó, ban hành khung pháp lý và định mức kinh phí hỗ trợ cho sinh viên dân tộc thiểu số học đại học từ xa/trực tuyến (hiện nay ngân sách chủ yếu hỗ trợ học tập trung). Cần hỗ trợ cả thiết bị học tập (laptop, đường truyền Internet) cho sinh viên diện này.
Nhà nước không nên cấp kinh phí cào bằng, mà “đặt hàng” các trường đại học trọng điểm dựa trên chỉ tiêu đầu ra (số sinh viên tốt nghiệp và có việc làm), không chỉ dựa trên chỉ tiêu tuyển mới.
Để thực hiện được điều đó, cần xây dựng Hệ sinh thái số dùng chung. Cụ thể, xây dựng kho học liệu số quốc gia dành riêng cho việc bổ trợ kiến thức nền tảng cho sinh viên dân tộc thiểu số, đặc biệt là ngoại ngữ và tin học để các trường cùng khai thác.
Đối với các nhà trường, khi xây dựng chương trình đào tạo cần tích hợp văn hóa bản địa và tri thức địa phương (ví dụ: Nông nghiệp công nghệ cao cho vùng núi, Y tế cộng đồng cho vùng sâu...) để kiến thức trở nên gần gũi, thiết thực. Mỗi sinh viên dân tộc thiểu số, dù học trực tiếp hay từ xa, cần có một mentor (giảng viên hoặc sinh viên khóa trên) theo sát để hỗ trợ tâm lý và phương pháp học, giảm tỉ lệ bỏ học.
“Đây không chỉ đơn thuần là đề án giáo dục, mà là chiến lược đầu tư dài hạn cho sự phát triển của quốc gia. Nếu được triển khai bài bản, đồng bộ và đến nơi đến chốn, trong khoảng hai thập niên tới, chúng ta có thể hình thành đội ngũ khoảng 20.000 - 25.000 trí thức dân tộc thiểu số có chất lượng cao, đủ năng lực hội nhập, đồng thời có bản lĩnh và trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Đây cũng là phương thức quan trọng để bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc bằng “đường biên mềm” - đường biên về văn hóa và chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số”. - PGS.TS Trần Thành Nam