Các chuyên gia cho rằng tình trạng hàng nghìn chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ còn trống phản ánh sự lệch pha giữa yêu cầu đào tạo, điều kiện nghiên cứu và nhu cầu sử dụng nhân lực trình độ cao.
Yêu cầu đào tạo cao, nhiều ngành khó tuyển người học
TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT), cho rằng tình trạng “ế” chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có yêu cầu đào tạo ngày càng chặt chẽ, cùng sự thay đổi về nhu cầu sử dụng nhân lực trình độ cao của doanh nghiệp và khu vực ngoài giáo dục đại học.
Theo ông Vinh, kinh tế, quản lý, kinh doanh là những nhóm ngành có đông người học tiến sĩ, một phần do điều kiện tổ chức đào tạo thuận lợi và đối tượng người học rộng hơn. Trong khi đó, đào tạo tiến sĩ ngày càng đòi hỏi cao về thời gian, năng lực nghiên cứu và các điều kiện bảo đảm chất lượng. Các cơ sở đào tạo phải bảo đảm đội ngũ, người hướng dẫn, tổ chức đào tạo và môi trường nghiên cứu.

“Quy chế đào tạo tiến sĩ hiện nay đặt ra những yêu cầu khá rõ về thời gian, quy trình và các điều kiện mà cơ sở đào tạo phải đáp ứng. Những yêu cầu này là cần thiết để bảo đảm chất lượng”, ông Vinh nói. Tuy nhiên, điều này khiến một bộ phận người có ý định học tiến sĩ phải cân nhắc kỹ hơn về thời gian, công việc và khả năng đáp ứng các yêu cầu trong quá trình học.
Theo TS Vinh, động lực học tiến sĩ thay đổi theo nhu cầu sử dụng nhân lực. Nhiều doanh nghiệp chú trọng năng lực thực tế, kinh nghiệm và hiệu quả công việc hơn bằng cấp, trong khi nhu cầu nhân lực trình độ tiến sĩ vẫn chủ yếu tập trung ở các trường đại học và cơ sở nghiên cứu. Vì vậy, nếu cơ hội việc làm và chế độ đãi ngộ không tương xứng, động lực học tiến sĩ cũng giảm.
Theo ông Vinh, yêu cầu công bố khoa học từng là rào cản với một bộ phận nghiên cứu sinh. Dù quy định đã linh hoạt hơn, chất lượng nghiên cứu và năng lực nghiên cứu độc lập vẫn phải được bảo đảm.
TS Lê Đông Phương, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục đại học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, cho rằng nguyên nhân nổi bật dẫn đến tình trạng chỉ tiêu tiến sĩ bỏ trống là điều kiện đào tạo bị siết chặt, trong khi nhiều ngành được mở nhưng không có người học và đầu ra việc làm hạn chế.
Theo ông Phương, những nhóm ngành gặp khó chủ yếu là khoa học tự nhiên và khoa học sự sống. “Yêu cầu nghiên cứu sinh phải có vài bài công bố khiến nhiều người ngại”, ông Phương nói.
Trước đây, nhiều trường, kể cả trường nhỏ và địa phương, mở ngành tiến sĩ dù mỗi năm chỉ có một, hai chỉ tiêu, dẫn đến tình trạng không có người học.
Tiến sĩ khó tìm đầu ra, trường thiếu điều kiện nghiên cứu
Theo TS Lê Đông Phương, điểm nghẽn lớn khác là đầu ra việc làm của tiến sĩ khá hẹp. Phần lớn người có bằng tiến sĩ làm việc trong khu vực nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học hoặc cơ quan quản lý.

Trong khi đó, biên chế ngày càng được siết chặt. “Biên chế thì giảm, cho nên đi học làm gì?”, ông đặt vấn đề. Với các ngành khoa học tự nhiên và khoa học sự sống, cơ hội việc làm cho người có bằng tiến sĩ càng hạn chế, chủ yếu ở giảng dạy và nghiên cứu.
Theo ông Phương, thu nhập sau tiến sĩ chưa đủ hấp dẫn khi cơ hội nghiên cứu và nguồn đề tài còn hạn chế.
Chi phí nghiên cứu cũng là rào cản, đặc biệt với các ngành thực nghiệm khi nghiên cứu sinh phải chi cho thí nghiệm, thiết bị và các hoạt động nghiên cứu. Trong khi đó, những ngành như kinh tế, quản lý, quản lý giáo dục có điều kiện nghiên cứu thuận lợi hơn nên dễ thu hút người học.
PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, cho rằng tình trạng “ế” chỉ tiêu tiến sĩ là sự lệch pha giữa số lượng các trường đăng ký đào tạo và số người thực sự có nhu cầu, đủ điều kiện theo học.
Theo ông Dũng, nhu cầu học tiến sĩ vẫn còn nhưng khá hẹp, chủ yếu ở khu vực đại học và nghiên cứu. Nhu cầu cũng phân hóa theo lĩnh vực: Các ngành quản lý, luật, xã hội dễ tuyển hơn, trong khi khoa học cơ bản, kỹ thuật khó tuyển. Có trường như Đại học Bách khoa Hà Nội chỉ tuyển bình quân hơn 50% chỉ tiêu, một số ngành cơ khí tại Trường ĐH Nha Trang có năm không tuyển được nghiên cứu sinh nào.
“Bằng tiến sĩ hiện chưa đủ bù chi phí cơ hội”, ông nhận định.
Cũng theo ông Dũng, ở các trường tự chủ, người có bằng tiến sĩ có thể đạt thu nhập khoảng 35-45 triệu đồng/tháng, cao hơn thạc sĩ nhưng chưa chắc đủ bù cho 3-4 năm thu nhập bị mất trong thời gian học tập, nghiên cứu và công bố. Với người làm ngoài trường, đặc biệt kỹ sư đã có kinh nghiệm, thu nhập thậm chí có thể cao hơn.
Một điểm nghẽn khác là điều kiện nghiên cứu. Thiếu phòng thí nghiệm, thiếu người hướng dẫn vẫn là thực tế, nhất là với các ngành thực nghiệm.
Theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, đầu tư cho R&D của Việt Nam hiện khoảng 0,4-0,5% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ mới khoảng 36%. Ông cho rằng chuẩn công bố quốc tế ngày càng cao nhưng hạ tầng và nguồn lực nghiên cứu ở nhiều nơi chưa theo kịp.
“Chỉ tiêu vẫn được xác lập phần nào theo việc mở ngành, quy mô và thứ hạng của trường, trong khi một suất đào tạo tiến sĩ thực chất phải đi kèm với một người hướng dẫn, một đề tài nghiên cứu, kinh phí và phòng thí nghiệm tương ứng”, ông Dũng nói.
Ông cho rằng không thể chỉ có “suất học” mà không có điều kiện để nghiên cứu sinh thực sự làm nghiên cứu. Việc một số người giỏi lựa chọn học tiến sĩ ở nước ngoài cũng có tác động nhưng chỉ là phần ngọn. Mỗi năm chỉ có vài trăm suất học bổng nước ngoài, không thể giải thích cho hơn 3.000 chỉ tiêu tiến sĩ còn trống trong nước.
Vì vậy, không nên nhìn tình trạng “ế” chỉ tiêu và kết luận xã hội đã hết nhu cầu học tiến sĩ. Vấn đề là các trường đăng ký bao nhiêu chỉ tiêu, thực tế có bao nhiêu người muốn và đủ điều kiện học, cũng như sau khi tốt nghiệp họ có thể phát huy năng lực nghiên cứu đến đâu.