Sáp nhập cao đẳng sư phạm vào đại học không chỉ là câu chuyện mô hình. Nếu làm không đúng cách, theo PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, quá trình này thậm chí có thể làm trường đại học yếu đi. Thách thức lớn nhất nằm ở đội ngũ và cách bảo đảm chất lượng đào tạo sau sáp nhập.
Sáp nhập các trường cao đẳng sư phạm vào đại học đang được đặt ra như một bước đi tất yếu trong tái cấu trúc hệ thống đào tạo giáo viên. Nhưng theo PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nếu chỉ nhìn sáp nhập như một quyết định hành chính, thì rất dễ bỏ qua điều quan trọng nhất: chất lượng đào tạo và con người sau sáp nhập sẽ ra sao.
PGS.TS Nguyễn Đức Sơn cho rằng, định hướng này không mới. Trong các chiến lược và quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm của Nhà nước, mục tiêu đã được xác lập khá rõ: đến năm 2030, hệ thống các trường cao đẳng sư phạm sẽ không còn tồn tại độc lập.
"Điều đó có nghĩa là nếu các trường cao đẳng vẫn tiếp tục đào tạo giáo viên ở trình độ cao đẳng – mà thực tế hiện nay vẫn còn nhu cầu, nhất là ở giáo dục mầm non thì con đường phù hợp là sáp nhập vào các trường đại học", PGS Sơn nhấn mạnh.

Sáp nhập để giữ dòng chảy đào tạo, không phải để "xếp lại tổ chức"
Theo PGS Sơn, sáp nhập không nên hiểu đơn giản là gom cơ sở đào tạo cho gọn đầu mối. Vấn đề cốt lõi là làm sao giữ được dòng chảy đào tạo giáo viên một cách liên tục, thống nhất.
"Khi sáp nhập, chúng ta có thể hình thành một tuyến đào tạo từ cao đẳng đến đại học, rồi sau đại học. Nguồn lực được tập trung, chương trình có sự liên thông, thống nhất, thay vì mỗi nơi làm một kiểu", ông phân tích.
Tác động của cách tiếp cận này thể hiện rõ nhất ở giáo dục mầm non – lĩnh vực đang thiếu giáo viên ở nhiều địa phương. Trong bối cảnh chuẩn bị phổ cập giáo dục mầm non, nhu cầu về đội ngũ ở cấp học này là rất lớn.
"Đào tạo giáo viên mầm non trình độ cao đẳng vẫn là nhu cầu thực tế. Nhưng nếu đặt trong một hệ thống đại học thống nhất, chúng ta vừa đáp ứng được yêu cầu trước mắt, vừa có điều kiện nâng chất lượng đào tạo về lâu dài", PGS.TS Nguyễn Đức Sơn nói thêm.
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý, sáp nhập sẽ không tự động mang lại chất lượng nếu chỉ dừng ở việc "chuyển tên, đổi biển".
Không để sáp nhập làm đại học… yếu đi
Một điểm PGS.TS Nguyễn Đức Sơn nhấn mạnh nhiều lần là: sáp nhập phải phục vụ cho sự phát triển của trường đại học, chứ không phải kéo lùi năng lực của cơ sở tiếp nhận.
"Chúng ta không mong muốn khi sáp nhập một trường cao đẳng vào đại học lại làm cho trường đại học yếu đi", PGS Sơn thẳng thắn. Theo ông, việc lựa chọn trường cao đẳng sáp nhập vào đại học nào cần có nguyên tắc rõ ràng, dựa trên sự tương đồng về chuyên môn và khả năng hỗ trợ lẫn nhau về nguồn nhân lực.
Mục tiêu cuối cùng, theo ông, là giúp trường đại học mở rộng năng lực đào tạo, có thêm chiều sâu, chứ không chỉ giải quyết bài toán tổ chức trong ngắn hạn.
Cùng với đó là câu chuyện quyền lợi người học. Khi đã nằm trong cùng một hệ thống, các quy trình tổ chức đào tạo – từ chương trình, đánh giá đến bảo đảm chất lượng – cần được thống nhất. "Dù học ở trình độ cao đẳng hay đại học, quyền lợi chính đáng của sinh viên phải được bảo đảm", ông Sơn khẳng định, đồng thời cho rằng cơ quan quản lý nhà nước cần có các quy định cụ thể để điều tiết quá trình này.
Nhưng theo ông, thách thức lớn nhất lại nằm ở một điểm khác.

Điểm nghẽn lớn nhất: đội ngũ giảng viên
Theo PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, sáp nhập sẽ không thể thành công nếu không giải quyết được bài toán đội ngũ. Chuẩn trình độ giữa giảng viên cao đẳng và đại học hiện vẫn còn khoảng cách, đặc biệt là yêu cầu về tỷ lệ tiến sĩ trong các cơ sở giáo dục đại học.
"Khi sáp nhập, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để phát triển đội ngũ ấy để về lâu dài đáp ứng được chuẩn của một trường đại học", ông nói. Đây không phải việc có thể làm ngay, mà cần thời gian và một lộ trình rõ ràng.
Tuy vậy, PGS Sơn cho rằng nếu nhìn thẳng vào thách thức, có cơ chế khuyến khích giảng viên tự bồi dưỡng, nâng chuẩn, thì chất lượng đào tạo hoàn toàn có thể được cải thiện một cách thực chất. "Có thể mất thời gian, nhưng khi giải quyết được vấn đề đội ngũ, chất lượng đào tạo sẽ tốt lên", ông nhấn mạnh.
Từ câu chuyện sáp nhập, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn mở rộng sang bài toán thiếu giáo viên hiện nay. Theo ông, việc điều chỉnh chỉ tiêu đào tạo hằng năm dựa trên nhu cầu địa phương là cần thiết, nhưng chưa đủ.
"Thiếu giáo viên không chỉ là câu chuyện chỉ tiêu. Nó còn liên quan đến việc giáo viên chuyển từ công lập sang tư thục, từ vùng này sang vùng khác, thậm chí chuyển sang làm nghề khác", ông phân tích. Đây là bài toán tổng thể, không thể giải quyết chỉ bằng những điều chỉnh ngắn hạn.
Liên quan đến tranh luận về điểm sàn đầu vào ngành sư phạm, trong khi sinh viên các ngành khoa học cơ bản không chịu mức sàn tương tự nhưng vẫn có thể học chứng chỉ sư phạm để trở thành giáo viên, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn cho rằng cần nhìn vấn đề từ chuẩn đầu ra.
Theo PGS Sơn, một sinh viên đã trúng tuyển và hoàn thành chương trình đào tạo bốn năm ở các ngành khoa học cơ bản thì về nguyên tắc đã đạt chuẩn năng lực chuyên môn. Việc học thêm nghiệp vụ sư phạm sẽ giúp họ đủ điều kiện giảng dạy ở phổ thông.
"Chuẩn đầu ra của cả một quá trình đào tạo bốn năm quan trọng hơn câu chuyện sàn đầu vào", PGS Sơn khẳng định. Trên thực tế, rất khó xác định ngay từ đầu ai sẽ theo con đường sư phạm để đặt ra một mức điểm sàn riêng. Vì vậy, trách nhiệm cốt lõi vẫn thuộc về các trường đại học trong việc xác định ngưỡng đầu vào phù hợp và bảo đảm chất lượng đào tạo thực chất – yếu tố quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên trong tương lai.