Giữa muôn vàn đổi thay của đời sống hiện đại, Tết Khẩu Hó của đồng bào dân tộc Lào tại Điện Biên vẫn gìn giữ được nét đẹp từ những điều bình dị nhất.

Không phô trương, Tết Khẩu Hó (Tết mừng cơm mới) của đồng bào dân tộc Lào tại Điện Biên hiện diện trong từng góc bếp thơm hương cốm mới, trong mâm lễ thành kính dâng lên tổ tiên và trong những bước chân hối hả tìm về sum họp của những người con xa quê.
Cuối tháng Chín, lúa ở Mường Nhà đã ngả sang màu vàng đằm. Ánh sáng ban mai xuống chậm trên những mái nhà còn vương hơi sương; ngoài ruộng, bông lúa nặng hạt nghiêng về một phía; trong bản, khói bếp đã lên từ sớm.
Mùi củi cháy quyện với mùi nếp mới theo gió luồn qua vách nhà, rồi quẩn dưới mái. Trong bếp, mấy người phụ nữ vừa làm vừa chuyện trò. Người sửa lại chõ xôi, người thái thịt, người lựa những thứ sẽ đặt lên mâm. Trẻ con chạy ra chạy vào. Người già ngồi nhắc từng việc một.
Người Lào ở xã Mường Nhà (tỉnh Điện Biên) gọi ngày này là Tết Khẩu Hó - Tết mừng cơm mới, thường được tổ chức vào dịp giữa tháng Tám âm lịch. Sau nhiều tháng trông trời, trông nước, cúi xuống với cây lúa, người làm ruộng cuối cùng cũng được cầm trên tay thành quả của mình.
Nhưng trước khi đưa cơm mới lên miệng, họ dành phần đầu tiên cho tổ tiên. Ở các bản Na Há, Na Khoang, Mường Lói, Na Cọ, Bản Xẻ của xã Mường Nhà, Tết Khẩu Hó năm nay đến trong không khí như thế. Không ồn ào ngay từ đầu, cái Tết ấy trước hết hiện diện trong từng căn bếp, từng mâm lễ đang được sửa soạn và trong niềm vui của những gia đình có con cháu đi xa trở về.
Những bông lúa đầu mùa được lựa kỹ, đem về rang rồi giã thành cốm. Việc tưởng đơn giản nhưng người làm phải biết lúc nào hạt vừa độ, lửa thế nào để lúa không cháy, giã đến đâu thì vừa. Qua bao lượt tay, hạt lúa ngoài đồng thành món xôi cốm thơm mềm trên mâm lễ.
Cùng với xôi cốm là gà, cá, thịt sấy, nhộng ong, rau quả, rượu, trà và những thức ăn gia đình chuẩn bị được. Không nhất thiết phải là món đắt tiền; mâm cơm có gì nhiều khi phụ thuộc chính vào một năm ruộng nương, vườn nhà đã cho họ những gì.
Nhà ông Lò Văn Coong ở bản Na Há sáng ấy đông người hơn ngày thường. Con cháu quây quần, ai có việc người nấy. Mọi người mặc trang phục truyền thống, những món ăn lần lượt được mang lên. Ông Coong vẫn nhớ điều cha ông truyền lại: Lúa mới làm ra chưa vội ăn, trước hết phải dâng ông bà, tổ tiên, báo rằng một mùa đã qua, con cháu vẫn khỏe mạnh, trong nhà vẫn có cơm ăn.
Không riêng Mường Nhà, qua những cộng đồng người Lào ở Điện Biên, Tết Khẩu Hó có một số khác biệt trong cách chuẩn bị và thực hành nghi lễ, song đều gặp nhau ở sự trân trọng thành quả lao động và lòng biết ơn đối với tổ tiên, thiên nhiên.
Ở bản Pa Xa Lào, ba mâm lễ được đặt ở ba vị trí khác nhau: trong nhà dành cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên; ngoài hiên dành cho các vị thần gắn với núi rừng, nguồn nước; một mâm đặt ở gian bếp. Ba mâm cơm, ba khoảng không gian nhưng đều hướng tới những gì gần gũi nhất với đời sống: người sinh ra mình, đất nước nuôi mình và căn bếp giữ hơi ấm cho mỗi mái nhà.
Ở xã Mường Lói trước đây (nay sáp nhập với xã Mường Nhà thành xã Mường Nhà), người Lào cũng chuẩn bị cơm nếp, thịt gà, vịt, cá, thịt khô cùng bầu, bí, dưa, nhãn và những thứ gia đình làm ra.
Khẩu Hó vốn sinh ra từ đời sống nông nghiệp nên mâm cơm mới cũng mang theo những gì ruộng nương vừa cho con người. Một mùa lúa đâu chỉ tính từ ngày gieo đến ngày gặt. Có những buổi sáng chân còn lạnh vì nước ruộng, những trưa nắng người cúi xuống giữa đồng; có trận mưa đến đúng lúc và cũng có những ngày cả nhà ngóng trời vì ruộng bắt đầu khô.
Đến khi bông lúa nặng hạt, niềm vui ấy khó tách riêng phần của con người với phần của đất trời. Thế nên mới có mâm cơm cảm tạ. Không phải vì người ta có nhiều, mà vì vừa đủ để nhớ ơn.

Nhà ông Lường Văn Nó ở bản Na Khoang năm nay đông vui khi những người con làm ăn xa trở về ăn Tết. Một năm có thể mỗi người một nơi, công việc cuốn đi, có khi điện thoại cho nhau nhiều hơn ngồi cạnh nhau. Nhưng đến Khẩu Hó, nếu thu xếp được, con cháu lại tìm về. Người mang theo ít quà, người chẳng có gì ngoài mấy ngày nghỉ. Với người già trong nhà, thế cũng đủ.
Sau khi lễ cúng hoàn tất, mâm cơm được hạ xuống, không khí lúc này mới thực sự rộn lên. Người trong nhà, anh em, hàng xóm cùng ngồi lại; rượu được rót, món ăn chuyền qua tay nhau.
Câu chuyện bắt đầu từ ruộng lúa năm nay rồi sang chuyện đứa cháu đi học, người con làm ăn xa, căn nhà mới dựng hay con đường vừa làm qua bản. Theo ông Nó, Khẩu Hó được người Lào nơi đây giữ từ đời này sang đời khác.
Đến rằm tháng Tám, bà con lại làm cơm mới, trước cúng tổ tiên, sau gia đình sum họp, rồi anh em, làng xóm sang chúc nhau. Người trong bản gặp nhau quanh năm, vậy mà ngày Tết vẫn có chuyện để ngồi với nhau thật lâu. Có lẽ vì ngày thường ai cũng bận, còn ngày này dành cho nhau.
Trong nhà chị Vì Thị Thương ở bản Na Há, trẻ nhỏ cũng được gọi đến cùng người lớn chuẩn bị. Chúng chưa làm được việc khó nhưng có thể ngồi nhìn bà chọn lúa, nhìn mẹ sắp món ăn, nghe người lớn nói tại sao thứ này đặt lên trước, món kia để sau. Người già dạy con cháu phong tục nhiều khi chẳng bằng những lời trang trọng.
Chỉ là: “Cầm cái này giúp bà”, “Để đĩa ấy sang đây”, “Cái này dành cúng ông bà trước”... Một đứa trẻ có thể chưa nhớ nổi tên từng nghi thức, nhưng nó nhớ mùi cốm vừa giã, nhớ chiếc áo mẹ mặc trong ngày Tết, nhớ hôm ấy người lớn không cho bốc nắm xôi mới ăn ngay mà phải đợi cúng ông bà xong đã.
Chị Thương muốn con cháu cùng tham gia cũng bởi vậy. Chúng phải được nhìn thấy, được làm cùng, rồi lớn lên mới hiểu những việc ông bà từng làm không phải câu chuyện xa xôi trong sách vở. Văn hóa đi vào một đứa trẻ từ những việc rất nhỏ, nhưng có khi lại ở rất lâu. Mai này, căn bếp có thể khác đi, chiếc chõ xôi cũng có thể khác, nhưng bàn tay từng phụ bà sửa mâm cơm sẽ nhớ.
Ở bản Na Khoang, ông Lò Văn Bun góp vào cuộc vui bằng chiếc khèn bè. Những ống khèn ghép cạnh nhau trông mộc mạc nhưng qua hơi người thổi, âm thanh lúc dìu dặt, lúc rộn ràng. Rồi điệu múa vòng lăm vông mở ra.
Người già, người trẻ bước vào, bàn tay đưa theo nhịp, chân dịch chậm thành vòng tròn. Trẻ nhỏ đứng ngoài nhìn một lúc cũng bắt chước; có đứa bước sai, cười rồi lại làm lại. Chẳng ai nói với chúng rằng đang “học di sản”, cũng không ai nhắc phải “phát huy bản sắc”. Chúng chỉ thấy vui nên bước vào. Tiếng khèn nhờ thế có người đi theo.

Qua nhiều năm, Tết Khẩu Hó không còn chỉ được biết đến trong cộng đồng người Lào. Những nét đẹp của ngày Tết đã được giới thiệu trong các hoạt động văn hóa, trên báo chí và trong những chương trình phát triển du lịch cộng đồng.
Ở xã Mường Luân (tỉnh Điện Biên), câu chuyện giữ Tết lúa mới đã được đặt bên cạnh hướng khai thác văn hóa bản địa để làm du lịch. Du khách đến bản có thể tìm hiểu cách làm cốm, thưởng thức món ăn truyền thống, xem trang phục, nghe khèn bè, hòa vào điệu lăm vông.
Một phong tục được nhiều người biết đến là điều đáng mừng, nhưng từ căn bếp của một gia đình bước ra sân khấu hay trở thành một sản phẩm du lịch là quãng đường cần đi cẩn thận. Bởi Tết sẽ khác nếu người ta làm cốm chỉ để khách chụp ảnh; tiếng khèn cũng khác nếu chỉ cất lên theo giờ biểu diễn.
Ở xã Mường Nhà, điều đáng chú ý trong Tết Khẩu Hó năm 2026 là địa phương đang tiến hành kiểm kê, tư liệu hóa Tết lúa mới của người Lào, từ hệ thống nghi thức, lễ vật đến ẩm thực, trang phục, âm nhạc và những tập quán liên quan, làm cơ sở phục vụ việc xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận Tết lúa mới - Khẩu Hó là di sản văn hóa phi vật thể.
Theo Chủ tịch UBND xã Mường Nhà Đặng Văn Tuấn, việc ghi nhận những giá trị ấy được thực hiện ngay trong đời sống cộng đồng, hạn chế sân khấu hóa. Người ngoài có thể giúp ghi chép, giới thiệu và tạo điều kiện để một phong tục được bảo tồn, nhưng không ai có thể sống thay văn hóa của một cộng đồng.
Người Lào là một trong 19 dân tộc cùng sinh sống lâu đời trên đất Điện Biên, cư trú chủ yếu ở những vùng thung lũng, ven sông, suối và dọc khu vực biên giới Việt - Lào. Cộng đồng người Lào hiện sinh sống tại các xã: Mường Nhà, Núa Ngam, Thanh Yên, Mường Luân, Tìa Dình, Phình Giàng và một số địa bàn khác. Cuộc sống của họ từ lâu gắn với trồng lúa, chăn nuôi, đánh bắt cá và những sinh hoạt văn hóa hình thành từ chính môi trường ấy.
Qua nhiều đời, người Lào ở Điện Biên vẫn giữ được nhiều nét văn hóa riêng, từ Tết té nước Bun Huột Nặm, Tết cơm mới Khẩu Hó đến khèn bè, múa lăm vông, múa hoa Chăm Pa, nghề dệt và nghệ thuật trang trí trang phục.
Tết té nước, nghệ thuật múa dân gian và nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Lào đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Riêng nghệ thuật trang trí trang phục có hệ thống hoa văn phong phú; tư liệu của ngành văn hóa Điện Biên ghi nhận gần 300 họa tiết.
Những nét văn hóa ấy không tồn tại riêng rẽ. Bộ váy được người phụ nữ tự tay dệt rồi mặc trong ngày hội; khèn bè cất lên để vòng lăm vông mở ra; còn Tết Khẩu Hó lại bắt đầu từ chính hạt lúa người dân làm ra trên ruộng.


Từ ăn, mặc, ở đến lễ hội, tín ngưỡng, nhiều giá trị văn hóa của người Lào vẫn gắn chặt với gia đình, bản làng và môi trường sống. Nhìn một mâm cơm mới, vì thế, cũng có thể nhận ra phía sau nó một phần đời sống của cả cộng đồng.
Cuộc sống ở những bản người Lào hôm nay đã khác nhiều. Máy móc thay sức người trên một số công đoạn đồng áng, đường rộng hơn, xe vào tận bản, người trẻ đi học, đi làm xa; trong mỗi căn nhà cũng có thêm những tiện nghi mà thế hệ ông bà họ chưa từng nghĩ tới. Tết Khẩu Hó rồi cũng sẽ đổi theo.
Có món ăn mai này ít người làm, có nghi thức có thể được giản lược, một đứa trẻ hôm nay ngồi xem bà giã cốm, vài năm nữa có thể học tập, làm việc ở một thành phố rất xa. Không ai giữ được đời sống đứng yên để bảo tồn một phong tục. Điều đáng mong hơn là giữa những đổi thay ấy, người ta vẫn còn lý do để trở về.
Chiều xuống ở Mường Nhà. Sau bữa cơm, người lớn còn ngồi chuyện trò, trẻ con đã chạy ra sân. Ngoài đồng, những chân ruộng chín muộn nằm vàng dưới nắng cuối ngày; trong bếp, chõ xôi đã nguội, chỉ còn mùi nếp mới vương trong căn nhà.
Ngày mai, mỗi người lại trở về với công việc của mình. Người ra ruộng, người đi làm, trẻ nhỏ đến trường; những người con ở xa rồi cũng rời bản. Nhưng năm sau, khi lúa lại cúi bông, một người mẹ sẽ lại lựa những hạt đầu mùa, một người già lại nhắc con cháu sửa mâm cơm. Và biết đâu, đứa trẻ năm nay còn đứng bên cạnh nhìn, sang năm đã biết tự tay mang đĩa xôi đặt đúng chỗ.
Tết Khẩu Hó được giữ lại, có lẽ từ những việc nhỏ như thế.