Các chuyên gia đề xuất xây dựng cơ chế thị thực nhân tài thông thoáng, đủ sức cạnh tranh để thu hút nhân lực chất lượng cao toàn cầu.

Ngày 20/5, Đại học Quốc gia TPHCM phối hợp cùng Học viện Chính trị Khu vực II - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học cấp quốc gia “Thị thực nhân tài và chính sách thu hút nguồn lực chất lượng cao phục vụ phát triển đất nước”.
Hội thảo nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 45-NQ/TW về phát huy vai trò đội ngũ trí thức và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Phát biểu tại hội thảo, ông Ngô Đông Hải, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nhấn mạnh: Đối với Việt Nam, nghiên cứu, hoàn thiện chính sách thị thực nhân tài không chỉ là yêu cầu cấp thiết trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài.
Chính sách này nhằm thu hút chuyên gia, trí thức quốc tế và kiều bào về Việt Nam tham gia phát triển đất nước, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ.
Theo ông Ngô Đông Hải, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương đúng đắn về thu hút và trọng dụng nhân tài.
Tuy nhiên, chính sách hiện nay còn phân tán, thiếu tính đột phá; chưa thực sự linh hoạt, thuận lợi; thiếu các cơ chế đặc thù về cư trú, lao động, tài chính và bảo đảm cuộc sống lâu dài cho chuyên gia quốc tế.
Môi trường làm việc và đãi ngộ chưa có tính cạnh tranh quốc tế. Hệ sinh thái thu hút nhân tài chưa đồng bộ: liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học còn hạn chế; thiếu các trung tâm đổi mới sáng tạo mang tính dẫn dắt, chưa hình thành các “cực hút” nhân tài tầm khu vực và toàn cầu.

Từ thực tiễn đó, ông Ngô Đông Hải đề nghị hội thảo tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách thị thực nhân tài, phân tích vai trò của chính sách này đối với phát triển quốc gia, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao quốc tế với phát triển nguồn lực trong nước.
Ông cũng nhấn mạnh cần nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia như Singapore, Ấn Độ để rút ra bài học phù hợp với điều kiện và thể chế Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần đề xuất mô hình chính sách theo hướng chuyển từ tư duy “thu hút” sang “cạnh tranh nhân tài toàn cầu”, thiết kế cơ chế thị thực nhân tài thông thoáng, cạnh tranh; thí điểm các khu vực, mô hình đặc thù (sandbox chính sách), mạnh dạn đặt doanh nghiệp và thị trường vào trung tâm của hệ sinh thái nhân tài.
Đồng thời, hoàn thiện cơ chế đãi ngộ, sử dụng và đánh giá nhân tài; xây dựng chính sách trọn gói: từ thị thực, cư trú, thu nhập đến môi trường sống.
Ngoài ra, ông đề xuất xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như các “cụm sáng tạo” và “đô thị nhân tài” gắn với các trung tâm đại học lớn như Đại học Quốc gia TPHCM trong đào tạo, kết nối và giữ chân nhân tài; tăng cường phân cấp, trao quyền cho các trung tâm đổi mới sáng tạo; gắn chính sách nhân tài với chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức.
Báo cáo đề dẫn hội thảo, ông Lê Hải Bình, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần được triển khai đồng bộ với nhiều nhóm giải pháp.
Theo ông, Việt Nam cần nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách nhân sự theo hướng cạnh tranh, minh bạch, tạo môi trường làm việc hấp dẫn để thu hút và giữ chân người tài.
Ông Lê Hải Bình cũng nhấn mạnh việc xây dựng hệ sinh thái thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, tăng cường kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Ông đề nghị đẩy mạnh nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, mở rộng hợp tác trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời xây dựng cơ chế phù hợp để thu hút chuyên gia nước ngoài và đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.
Ngoài ra, các cơ sở giáo dục đại học lớn cần phát huy vai trò hạt nhân trong đào tạo, phát triển và giữ chân nhân tài.

GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Đại học Quốc gia TPHCM, nhận định Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng đối với nguồn nhân lực chất lượng cao, vấn đề thị thực nhân tài cần được tiếp cận với tư duy rộng hơn một chính sách hành chính đơn thuần.
“Thị thực nhân tài không nên được nhìn nhận đơn thuần là một chính sách nhập cư hay một thủ tục hành chính, mà cần được xem là một công cụ chiến lược trong cạnh tranh quốc gia về nhân tài; là cánh cửa để Việt Nam kết nối với dòng chảy tri thức toàn cầu; đồng thời là tín hiệu thể chế cho thấy đất nước có thực sự sẵn sàng chào đón, trọng dụng và tạo điều kiện cho người tài hay không”, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai nhấn mạnh.
Theo Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM, kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia thành công không chỉ thu hút nhân tài bằng chế độ đãi ngộ hay ưu đãi tài chính, mà còn bằng cả một hệ sinh thái đồng bộ, bao gồm cơ chế thị thực linh hoạt, môi trường học thuật cởi mở, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ hội khởi nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chính sách dành cho gia đình đi cùng và chất lượng sống hấp dẫn.
Từ đó, cách tiếp cận trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng đã thay đổi: từ trọng tâm đào tạo nhân lực sang quản trị toàn bộ dòng chảy nhân tài - từ phát hiện, thu hút, dịch chuyển, tuần hoàn đến giữ chân và phát huy nguồn lực chất lượng cao.

GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai cho rằng nỗ lực của từng cơ sở giáo dục đại học sẽ khó đủ sức tạo đột phá nếu thiếu một khung chính sách quốc gia linh hoạt, minh bạch và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
"Nếu có chính sách thị thực nhân tài thông thoáng, gắn với môi trường học thuật tốt, cơ sở vật chất đầy đủ, cơ chế đãi ngộ phù hợp, nhóm nghiên cứu mạnh và chất lượng sống hấp dẫn, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành điểm đến mới của nhân tài trong khu vực", bà Mai nhận định.
Hơn 40 tham luận gửi đến hội thảo đã tập trung phân tích và đề xuất nhiều giải pháp liên quan đến đào tạo, phát triển và thu hút nhân tài.
Nhiều ý kiến cho rằng bài toán nguồn nhân lực hiện nay không chỉ dừng ở các chính sách ưu đãi hay cơ chế thị thực riêng lẻ mà cần được tiếp cận theo hướng xây dựng hệ sinh thái phát triển đồng bộ.
Việc thu hút, sử dụng và giữ chân nhân lực chất lượng cao cần gắn với môi trường nghiên cứu cạnh tranh, cơ chế trao quyền phù hợp, đồng thời thúc đẩy kết nối viện - trường - doanh nghiệp nhằm chuyển hóa tri thức thành giá trị thực tiễn.

Từ các tham luận và thảo luận, nhiều ý kiến cũng chỉ ra việc thu hút nhân tài hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản cần tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ.
Bên cạnh yêu cầu xây dựng môi trường học thuật và nghiên cứu cạnh tranh, một số điểm nghẽn về thể chế được nêu như thủ tục hành chính, giấy phép lao động, thời hạn lưu trú, quyền lợi đối với gia đình đi cùng và việc chưa có định danh pháp lý chuyên biệt cho “thị thực nhân tài”.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nguồn lực chất lượng cao ngày càng gia tăng, những hạn chế này có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hút, sử dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ nhân lực trình độ cao.
Tại hội thảo, các đại biểu đã lắng nghe nhiều báo cáo tham luận: TS. Wei Yang, Trường Đại học Quản lý Singapore với chủ đề “Chương trình thu hút và phát triển nhân tài trong lĩnh vực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp của Singapore”;
Tham luận của ông Lưu Quang Minh, Bộ Khoa học và Công nghệ, về “Đổi mới cơ chế quản lý chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”;
Tham luận của PGS.TS Huỳnh Khả Tú, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Đào tạo Đại học Quốc gia TPHCM về “Vai trò của Đại học Quốc gia TPHCM trong xây dựng hệ sinh thái nhân tài phục vụ chính sách thị thực nhân tài quốc gia”;
Tham luận của PGS.TS Nguyễn Tấn Vinh về “Thị thực nhân tài - kinh nghiệm thực tiễn và bài học rút ra cho Việt Nam”.
Đại diện Sở Nội vụ TPHCM cũng chia sẻ tham luận về cơ sở thực tiễn và hiệu quả triển khai chính sách thu hút chuyên gia nước ngoài tại TPHCM.