Việc công khai thông tin về chương trình liên kết trong nhà trường góp phần tăng tính minh bạch hóa và sự tự nguyện của người học.

UBND TP Hà Nội vừa yêu cầu các trường học không được ép buộc học sinh tham gia chương trình liên kết giáo dục dưới bất kỳ hình thức nào. Các cơ sở giáo dục phải công khai thông tin về chương trình liên kết trước khi tuyển sinh và cập nhật khi có thay đổi trong quá trình triển khai.
Dưới góc nhìn chuyên gia giáo dục, TS Nguyễn Văn Thanh - giảng viên Học viện Phụ nữ Việt Nam cho rằng, đây là chủ trương hết sức cần thiết, phù hợp với yêu cầu bảo vệ quyền lợi người học, tăng cường kỷ cương và minh bạch trong quản trị nhà trường.
Ý nghĩa sâu xa của chủ trương này không chỉ nằm ở việc ngăn chặn tình trạng ép buộc, mà còn đặt ra yêu cầu xác lập rõ ranh giới giữa hoạt động giáo dục bắt buộc và các chương trình bổ sung theo nhu cầu; giữa quyền tự chủ của nhà trường và quyền lựa chọn của phụ huynh, học sinh; giữa mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và lợi ích tài chính phát sinh từ hoạt động liên kết.
Về khách quan, các chương trình liên kết giáo dục nếu được tổ chức đúng quy định và bảo đảm chất lượng có thể góp phần đa dạng hóa cơ hội học tập, phát triển ngoại ngữ, công nghệ, kỹ năng và năng lực hội nhập cho học sinh. Tuy nhiên, xã hội hóa giáo dục không đồng nghĩa với thương mại hóa hoạt động giáo dục trong nhà trường; quyền tự chủ không đồng nghĩa với quyền áp đặt sự lựa chọn lên phụ huynh.

Về mặt pháp lý, Luật Giáo dục năm 2019 xác lập các nguyên tắc về quyền của người học, trách nhiệm của cơ sở giáo dục và công khai thông tin trong hoạt động giáo dục. Thông tư số 09/2024/TT-BGDĐT quy định về công khai trong hoạt động của các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân là một căn cứ quan trọng để thực hiện minh bạch thông tin.
"Từng loại hình liên kết, giáo dục bổ trợ hoặc dịch vụ hỗ trợ giáo dục còn phải tuân thủ các quy định chuyên ngành và của địa phương. Đặc biệt là sự đồng thuận của phụ huynh không thể thay thế điều kiện pháp lý mà chương trình phải đáp ứng. Một chương trình dù có đông học sinh đăng ký vẫn phải được tổ chức đúng thẩm quyền, phạm vi, đáp ứng các điều kiện về chuyên môn, chất lượng và tài chính theo quy định", TS Nguyễn Văn Thanh nhấn mạnh.
Là chuyên gia cao cấp đến từ Học viện Quản lý giáo dục, PGS.TS Trần Thị Minh Hằng cho hay, tính tự nguyện không thể chỉ được xác định bằng chữ ký trên phiếu đăng ký, mà phải được đánh giá qua điều kiện lựa chọn thực tế.
Nếu phụ huynh đồng ý vì lo con bị tách khỏi tập thể, không có hoạt động phù hợp khi các bạn tham gia chương trình liên kết, hoặc chịu áp lực từ việc vận động đăng ký, thì sự tự nguyện ấy chưa được bảo đảm đầy đủ. Ngoài ra cũng cần tính đến vấn đề công bằng giáo dục.
Không thể để khả năng chi trả của gia đình trở thành yếu tố quyết định việc học sinh có được tiếp cận những nội dung giáo dục mà nhà trường có trách nhiệm bảo đảm theo chương trình bắt buộc hay không. Hoạt động liên kết phải tạo thêm giá trị, không được thay thế hoặc làm suy giảm chất lượng giáo dục chính khóa. Quyền không tham gia phải được tôn trọng và bảo vệ bình đẳng với quyền tham gia.

Để chủ trương được triển khai hiệu quả, theo TS Nguyễn Văn Thanh cần tập trung vào nhiều giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, công khai đầy đủ và có thể kiểm chứng. Trước khi tổ chức đăng ký, nhà trường cần cung cấp rõ căn cứ triển khai, đơn vị liên kết, mục tiêu, nội dung, thời lượng, đội ngũ giảng dạy, mức thu, phương thức đánh giá và trách nhiệm của các bên. Mọi thay đổi liên quan đến quyền lợi người học phải được thông tin kịp thời. Công khai không chỉ là niêm yết văn bản, mà phải giúp phụ huynh có đủ thông tin để đưa ra quyết định.
Thứ hai, bảo đảm cơ chế đăng ký chủ động, không mặc định tham gia. Cần tách việc đăng ký chương trình liên kết khỏi tuyển sinh và các hoạt động giáo dục bắt buộc; không giao chỉ tiêu vận động đăng ký cho giáo viên hoặc lấy tỷ lệ tham gia làm tiêu chí thi đua. Đồng thời, phải có cơ chế tiếp nhận phản ánh và giải quyết yêu cầu thay đổi, chấm dứt tham gia theo các điều kiện hợp pháp đã công bố.
Thứ ba, bảo đảm quyền lợi của học sinh không đăng ký. Khi chương trình liên kết được tổ chức trong thời gian học sinh có mặt tại trường, cần bố trí hoạt động phù hợp, quản lý an toàn, không gây gián đoạn việc học và không tạo ra sự phân biệt đối xử. Đây là điều kiện quan trọng để tránh tình trạng ép buộc gián tiếp, khi phụ huynh buộc phải đóng tiền vì nhà trường không có phương án thay thế hợp lý.
Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng và trách nhiệm của đối tác. Nhà trường cần kiểm tra điều kiện pháp lý, năng lực chuyên môn, đội ngũ giảng dạy và nội dung chương trình theo quy định áp dụng. Thỏa thuận hợp tác phải xác định rõ trách nhiệm, tiêu chí chất lượng, cơ chế giám sát và xử lý khi không thực hiện đúng cam kết. Không thể khoán trắng hoạt động liên kết cho đơn vị cung cấp dịch vụ rồi đứng ngoài trách nhiệm quản lý.
Thứ năm, tăng cường giám sát độc lập và đánh giá dựa trên kết quả giáo dục. Cơ quan quản lý cần kiểm tra cả hồ sơ lẫn thực tế tổ chức, nhất là quy trình đăng ký, mức thu, chất lượng giảng dạy và quyền lợi của học sinh không tham gia. Cần thiết lập kênh phản ánh thuận tiện, bảo vệ người phản ánh và xử lý vi phạm theo thẩm quyền. Hiệu quả chương trình phải được đo bằng tiến bộ của học sinh, chất lượng thực tế và việc thực hiện cam kết, thay vì doanh thu hay tỷ lệ đăng ký.
Theo góc nhìn của PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền đến từ Mạng lưới Quản lý giáo dục không biên giới (EdulightenUp), chủ trương của Hà Nội đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý bằng thủ tục sang quản trị dựa trên chất lượng, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nhà trường phải chứng minh được giá trị giáo dục của chương trình, thay vì chỉ chứng minh rằng phụ huynh đã ký đồng ý.
PGS.TS Đặng Thị Thanh Huyền cho biết, thước đo thành công không phải là có bao nhiêu học sinh đăng ký, mà là quyền lựa chọn của mỗi gia đình có được bảo đảm thực chất hay không. Một chương trình giáo dục có giá trị phải đủ sức thuyết phục bằng chất lượng, không cần đến áp lực dưới bất kỳ hình thức nào. Khi quyền từ chối được tôn trọng như quyền tham gia, tính tự nguyện mới thực sự có ý nghĩa.