Ba phương án sắp xếp mạng lưới trường học được xây dựng theo hướng tinh gọn, trong đó Đảng ủy UBND tỉnh Phú Thọ đề xuất chọn Phương án 3.

Đảng ủy UBND tỉnh Phú Thọ đã có Tờ trình số 830/TTr/ĐU xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ đối với Phương án tổng thể sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn tỉnh (Tờ trình số 830/TTr/ĐU).
Việc xây dựng phương án được đặt trong yêu cầu sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tinh gọn đầu mối, đổi mới quản trị nhà trường, nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất và đội ngũ.
Theo Tờ trình số 830/TTr/ĐU, Phương án 1 thực hiện theo chỉ đạo ban đầu của Thủ tướng Chính phủ, định hướng giảm từ 30 - 50% số cơ sở giáo dục. Riêng khối trường thuộc UBND xã, phường, từ 1.698 cơ sở còn 843 cơ sở, giảm 855, tương ứng 50,4%. Khối đơn vị thuộc Sở GD&ĐT từ 158 còn 136 đơn vị.
Ưu điểm của phương án này là mức độ tác động đến mạng lưới và đội ngũ thấp hơn, giảm áp lực cơ cấu lại cán bộ quản lý, giáo viên, nhân sự hỗ trợ. Tuy nhiên, hạn chế được xác định là chưa bám sát chỉ đạo mới của Trung ương.
Phương án 2 thực hiện theo chỉ đạo mới của Trung ương, định hướng mỗi xã, phường có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học, 1 trường THCS hoặc 1 trường mầm non và 1 trường phổ thông nhiều cấp học.
Theo phương án này, tổng số 1.861 cơ sở giáo dục trước sắp xếp còn 586 cơ sở, giảm 1.275, tỷ lệ 68,4%. Riêng khối thuộc UBND xã, phường giảm từ 1.698 xuống 461 cơ sở, tương ứng giảm 1.237 cơ sở, tỷ lệ 72,9%. Khối trường THPT: 100 trường; sau sắp xếp còn lại: 81 trường; giảm: 19 trường, tỷ lệ 19%.
Đây là phương án có mức giảm đầu mối lớn nhất, tạo sự thống nhất về mô hình mạng lưới giữa các đơn vị hành chính cấp xã, thuận lợi cho quản lý, phân bổ biên chế và ngân sách.
Tuy nhiên, số lượng cơ sở phải sắp xếp lớn, hình thành trường quy mô lớn, nhiều phân hiệu, điểm trường; tăng áp lực quản trị, điều hành, bố trí đội ngũ và xử lý nhân sự dôi dư. Không tính đến sự khác biệt lớn về dân số, số học sinh, địa hình và giao thông giữa các địa bàn.
Còn phương án 3 thực hiện yêu cầu chỉ đạo mới của Trung ương nhưng tính đến yếu tố đặc thù của tỉnh Phú Thọ. Tổng số cơ sở giáo dục từ 1.861 còn 609 cơ sở, giảm 1.252 cơ sở, tỷ lệ 67,3%; có 1.244 phân hiệu và 593 điểm trường.
Riêng khối thuộc UBND các xã, phường, số cơ sở giảm từ 1.698 xuống 474, giảm 1.224 cơ sở, tỷ lệ 72,1%. Sau sắp xếp dự kiến còn 149 trường mầm non, 141 trường tiểu học, 162 trường THCS và 22 trường liên cấp tiểu học - THCS.
Đối với THPT, từ 100 trường dự kiến còn 88 trường, giảm 12 trường, tỷ lệ 12%. Khối giáo dục thường xuyên từ 33 trung tâm còn 22 trung tâm, giảm 11, tỷ lệ 33,3%. Khối giáo dục nghề nghiệp từ 10 đơn vị còn 5 đơn vị, giảm 50%.
Theo Tờ trình số 830/TTr/ĐU, Phương án 3 vẫn bảo đảm yêu cầu tinh gọn theo chỉ đạo mới của Trung ương, đồng thời phù hợp hơn với quy mô học sinh, địa hình, khoảng cách đi lại và khả năng quản trị. Qua đó, hạn chế hình thành trường quy mô quá lớn, giảm tác động đến học sinh, đội ngũ và mạng lưới hiện có, nâng tính khả thi khi triển khai.
Nhưng mức giảm đầu mối và khả năng tiết kiệm nguồn lực trước mắt thấp hơn Phương án 2. Việc duy trì thêm trường tại một số địa bàn đặc thù phải có tiêu chí, số liệu cụ thể, đúng thẩm quyền, tránh phát sinh ngoại lệ thiếu căn cứ.

Dù có mức độ sắp xếp khác nhau, cả 3 phương án thống nhất một số nguyên tắc lớn. Trước hết là thực hiện chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ; tinh gọn đầu mối phải gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị và bảo đảm quyền lợi người học.
Cả 3 phương án đều không sáp nhập trường mầm non với trường phổ thông hoặc trung tâm GDTX; không sáp nhập trường phổ thông với trung tâm GDNN-GDTX, trung tâm GDTX; không sắp xếp trường chuyên biệt với trường phổ thông thông thường, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
Các phương án cùng áp dụng 2 mô hình gồm trường một cấp học và trường phổ thông nhiều cấp học; mỗi trường có thể tổ chức trường chính, trụ sở chính cùng các phân hiệu, điểm trường phù hợp quy mô học sinh, địa bàn và điều kiện thực tế. Đồng thời, tiếp tục duy trì 22 trường THCS có vai trò trọng điểm, nòng cốt về chất lượng giáo dục, gồm 13 trường khu vực Phú Thọ và 9 trường khu vực Vĩnh Phúc.
Theo Tờ trình số 830/TTr/ĐU, qua so sánh, mức độ tác động đến đội ngũ của 3 phương án cũng có sự khác biệt. Phương án có mức độ sắp xếp càng lớn thì yêu cầu bố trí lại, chuyển đổi vị trí việc làm và xử lý nhân sự dôi dư càng cao. Vì vậy, việc lựa chọn không chỉ dựa vào số đầu mối giảm mà còn phải tính đến khả năng tổ chức hoạt động ổn định sau sắp xếp.
Từ các yếu tố trên, Đảng ủy UBND tỉnh Phú Thọ đề xuất lựa chọn Phương án 3 bởi lẽ phương án này vẫn thực hiện nghiêm yêu cầu mới của Trung ương về tinh gọn mạng lưới cơ sở giáo dục nhưng tính đến đặc thù của tỉnh, tránh sắp xếp cơ học.
Theo đánh giá trong Tờ trình số 830/TTr/ĐU, về tổng thể, Phương án 3 bảo đảm tinh gọn nhưng không cơ học, thực hiện sớm nhưng có lộ trình, phân hóa nhưng có căn cứ; xử lý ngay những đầu mối đã đủ điều kiện sắp xếp, đồng thời tạo thời gian cần thiết để giải quyết những trường hợp đặc thù, bảo đảm sau sắp xếp hệ thống vận hành ổn định, hiệu quả và không ảnh hưởng quyền lợi người học.
Trước đó, ngày 18/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ họp và cho ý kiến về nhiều nội dung trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng; trong đó có nội dung về sắp xếp các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh.
Tại hội nghị, ông Phạm Đại Dương - Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ nhấn mạnh, việc sắp xếp nhằm giảm đầu mối quản lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục và đẩy lùi tiêu cực. Đây là mục tiêu xuyên suốt của Đảng và Nhà nước.
Quá trình triển khai phải nhìn nhận một cách tổng thể nhằm khắc phục triệt để bệnh thành tích, bảo đảm tính công bằng để học sinh ở các vùng miền đều được thụ hưởng chất lượng giáo dục tốt nhất sau khi sắp xếp.