Khoa học - công nghệ

Giải pháp cấp bách hoàn thiện các cơ sở dữ liệu của ngành GD-ĐT

Hiếu Nguyễn 21/09/2026 19:55

Chiều 21/9, Bộ GD&ĐT phối hợp Bộ Công an tổ chức Hội nghị về các giải pháp cấp bách hoàn thiện các cơ sở dữ liệu của ngành GD-ĐT.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn; Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương chủ trì điểm cầu Bộ GD&ĐT.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn; Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương chủ trì điểm cầu Bộ GD&ĐT.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến nhằm đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Dự Hội nghị, tại điểm cầu Bộ GD&ĐT có Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn; Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương - Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an; Đại tá Nguyễn Thành Vĩnh - Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an; đại diện của Cục C06, V01 của Bộ Công an; lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ GD&ĐT.

Tại điểm cầu địa phương và cơ sở đào tạo có đại diện lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố; các sở GD&ĐT; các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu khoa học có đào tạo tiến sĩ; các trường cao đẳng, trung cấp.

Nhận diện, xử lý triệt để “điểm nghẽn”

Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, ngành Giáo dục có số lượng cơ sở giáo dục, nhà giáo, cán bộ quản lý, học sinh, sinh viên rất lớn. Vì vậy, cơ sở dữ liệu của ngành có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống cơ sở dữ liệu của đất nước.

Đặc biệt, nhiều thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của công dân. Chuyển sang điều hành, quản lý dựa trên cơ sở dữ liệu, thời gian qua, ngành Giáo dục đã rất nỗ lực và là một trong những ngành đầu tiên xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ đối với các cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên, với yêu cầu chuyển đổi số mạnh mẽ, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, tốc độ và yêu cầu phát triển các nền tảng số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, kết nối liên thông và kết nối với các hệ thống hỗ trợ thủ tục hành chính, các cơ sở dữ liệu quốc gia khác ngày càng cao. Đặc biệt, dữ liệu có vai trò quan trọng trong phục vụ hoạch định chính sách.

Thời gian qua, ngành Giáo dục đã sử dụng nhiều dữ liệu về người học, trường, lớp để phân tích và hoạch định chính sách. Nhiều văn bản pháp lý cũng đã được ban hành; các dự thảo, nghị định, thông tư và cơ sở pháp lý liên quan từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.

Bộ trưởng chỉ ra 5 vấn đề cần tập trung giải quyết, gồm: bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”; xây dựng nền tảng dùng chung; kết nối, liên thông dữ liệu; phát triển hạ tầng và bảo đảm nguồn lực thực hiện.

bt2.jpg
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn phát biểu khai mạc.

Báo cáo kết quả thực hiện, ông Nguyễn Sơn Hải - Quyền Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT) cho biết, thực hiện Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW, Bộ GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch số 1496/KH-BGDĐT ngày 23/7/2026 thực hiện Kế hoạch hành động 100 ngày.

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT phân công một Thứ trưởng trực tiếp chỉ đạo, giao Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin làm đơn vị thường trực giúp việc. Định kỳ hằng tuần, lãnh đạo Bộ tổ chức họp rà soát tiến độ triển khai và ban hành các thông báo kết luận chỉ đạo.

Để đảm bảo pháp lý cho xây dựng, tạo lập, quản lý, khai thác sử dụng dữ liệu giáo dục, Bộ GD&ĐT đã ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản như: Nghị định về quản lý dữ liệu GD&ĐT, khung kiến trúc số phiên bản 4.0; ban hành khung kiến trúc dữ liệu, khung quản trị, khung quản lý dữ liệu, từ điển dữ liệu, danh mục dữ liệu dùng chung trong GD&ĐT nhằm thống nhất mô hình kiến trúc, chuẩn hóa dữ liệu, làm nền tảng để phát triển chuyển đổi số. Cùng với đó là các văn bản liên quan đến học bạ số; văn bằng, chứng chỉ; cơ sở dữ liệu các cấp học.

Ông Nguyễn Sơn Hải cũng thông tin chi tiết về kết quả triển khai cơ sở dữ liệu học bạ số; cơ sở dữ liệu văn bằng, chứng chỉ số; cơ sở dữ liệu giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học (HEMIS); cùng với đó là tồn tại hạn chế, nguyên nhân.

Theo ông Hải, tiến độ triển khai các cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục đang bị cản trở bởi 2 điểm nghẽn chính. Một là công tác chỉ đạo, điều hành, nhận thức ở một số cấp quản lý, thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu, có tâm lý phó mặc cho bộ phận kỹ thuật. Hai là ảnh hưởng của quá trình sáp nhập, sắp xếp tổ chức.

Nhằm xử lý triệt để các điểm nghẽn, ông Nguyễn Sơn Hải nhấn mạnh 4 nhóm giải pháp: siết chặt kỷ cương, trách nhiệm người đứng đầu; thúc đẩy tiến độ hoàn thành các chỉ tiêu; khơi thông kỹ thuật, làm sạch và đồng bộ dữ liệu; tháo gỡ rào cản pháp lý, liên ngành và nguồn lực.

bt6.jpg
Ông Nguyễn Sơn Hải - Quyền Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin báo cáo.

Xây dựng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, triển khai nền tảng số dùng chung

Tại Hội nghị, cùng với việc thông tin về kết quả triển khai, đại diện lãnh đạo các cục, vụ thuộc Bộ, các sở GD&ĐT và cơ sở giáo dục đã thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoàn thiện cơ sở dữ liệu của ngành; đồng thời nêu kiến nghị, đề xuất giải pháp với quyết tâm xử lý triệt để các điểm nghẽn, đưa các hệ thống cơ sở dữ liệu vào vận hành thực chất.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương đề nghị Bộ GD&ĐT tập trung tối đa nguồn lực, khẩn trương khắc phục, xử lý các điểm tồn tại, hạn chế và hoàn thành đúng với các cơ sở dữ liệu đã được giao; đề nghị Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, Giám đốc Sở, lãnh đạo các trường, học viện, cơ sở giáo dục chỉ đạo trực tiếp, điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả, tiến độ, chất lượng thực hiện theo chỉ đạo của Trung ương.

Kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu, cũng như nền tảng số phục vụ chuyển đổi số ngành Giáo dục. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi ngành Giáo dục, bởi hệ thống và cơ sở dữ liệu của ngành đóng vai trò rất quan trọng trong cơ sở dữ liệu quốc gia.

Bộ trưởng ghi nhận nỗ lực của nhiều sở GD&ĐT, cơ sở giáo dục và các đơn vị thuộc Bộ trong hoàn thiện các cơ sở dữ liệu của ngành. Kết quả đạt được ở một số đơn vị đã có chuyển biến mạnh so với trước thời điểm triển khai Kế hoạch 100 ngày, có nơi gần như đạt 100%. Điều đó cho thấy hoàn toàn có thể làm được.

Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng cho thấy còn có những tồn tại, hạn chế. Theo Bộ trưởng, đó là dữ liệu chưa đầy đủ, chưa được cập nhật kịp thời; nền tảng dùng chung mới ở bước đầu triển khai; kết nối, liên thông dữ liệu còn hạn chế; việc ký số chưa được triển khai toàn diện; vấn đề an ninh, an toàn dữ liệu vẫn cần được quan tâm.

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, như toàn ngành cùng lúc triển khai nhiều nhiệm vụ lớn; thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính, trường lớp đòi hỏi tập trung nguồn lực, đồng thời phát sinh yêu cầu mới về chuyển đổi và cập nhật dữ liệu; khối lượng dữ liệu của ngành rất lớn…; những nguyên nhân chủ quan cũng được Bộ trưởng chỉ ra.

Thứ nhất, nhận thức chưa đầy đủ; chưa thấy hết vai trò, tầm quan trọng và tính cấp bách của việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu; từ đó dẫn đến hành động và kết quả chưa đạt yêu cầu.

Cùng với đó là hạn chế về nguồn lực, con người và tài chính; những vướng mắc về kỹ thuật; công tác phối hợp và phân công trách nhiệm chưa rõ ở một số nơi; hạn chế từ cách thiết kế hệ thống theo hướng tập trung vào cơ sở dữ liệu trước đây, còn tư duy phân mảnh trong xây dựng cơ sở dữ liệu...

Đưa quan điểm cách tiếp cận xây dựng nền tảng số có khả năng tích hợp, Bộ trưởng cho rằng, đặc thù của từng lĩnh vực hoàn toàn có thể tích hợp vào nền tảng chung, thay vì mỗi lĩnh vực lại xây dựng một cơ sở dữ liệu riêng.

bt3.jpg
bt4.jpg
bt5.jpg
Đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ GD&ĐT phát biểu.

Về nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, Bộ trưởng yêu cầu tập trung trước hết vào việc xây dựng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”; trong đó ưu tiên văn bằng số, sau đó là học bạ số, tiếp đến là các cơ sở dữ liệu khác của ngành, phục vụ thống kê, phân tích, hoạch định chính sách và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Đồng thời, triển khai nền tảng số dùng chung. Nền tảng đã có, vấn đề hiện nay là tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hạ tầng.

Các mốc thời gian cụ thể phải hoàn thành cập nhật học bạ số, văn bằng số và cơ sở dữ liệu giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp... cũng được Bộ trưởng đưa ra.

Lãnh đạo, chỉ đạo phải quyết liệt, rõ nhiệm vụ, trách nhiệm

Về giải pháp thực hiện, Bộ trưởng nhấn mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải quyết liệt, rõ ràng, phân công rõ trách nhiệm. Cách tổ chức theo chiến dịch, không đơn thuần chỉ là kế hoạch. Theo đó, thành lập các tổ công tác đặc biệt, có đầu mối để cùng phối hợp, hỗ trợ triển khai.

Về việc tập huấn, cần có sổ tay hướng dẫn rất chi tiết cho các đối tượng khác nhau. Về giải pháp nhân lực, đề nghị các trường đại học huy động sinh viên, hỗ trợ các sở GD&ĐT trong việc triển khai văn bằng số trong thời gian tới.

Bộ trưởng nhấn mạnh đưa việc hoàn thành những nhiệm vụ này vào đánh giá cán bộ, coi đây là một tiêu chí rất quan trọng.

img-4213.jpg
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương phát biểu.

Về nhiệm vụ cụ thể, Bộ trưởng đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: đưa nhiệm vụ hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành GD-ĐT vào chương trình công tác trọng tâm; phân công 1 lãnh đạo UBND trực tiếp phụ trách; bố trí kinh phí trang bị chữ ký số cho các cơ sở giáo dục, nhất là cơ sở mầm non độc lập, tư thục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên; chỉ đạo Công an, cơ quan thuế địa phương tháo gỡ vướng mắc về mã định danh tổ chức, mã số thuế sau sắp xếp đơn vị hành chính; giải quyết dứt điểm tình trạng lõm sóng, thiếu điện tại các cơ sở giáo dục.

Giám đốc Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố và Bộ trưởng về kết quả dữ liệu của địa phương; bảo đảm các mốc bắt buộc đã đưa ra; chỉ đạo các cơ sở giáo dục nhập chính xác số định danh cá nhân, phối hợp Công an cấp xã làm sạch dữ liệu; báo cáo tiến độ về Bộ GD&ĐT hằng tuần, số liệu phải khớp với hệ thống. Giám đốc Sở GD&ĐT nơi có tỷ lệ thấp có văn bản giải trình và cam kết tiến độ gửi Bộ trưởng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trước ngày 26/9/2026.

Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện trước Bộ trưởng về tiến độ và chất lượng dữ liệu của đơn vị; trực tiếp chỉ đạo, không giao khoán cho bộ phận công nghệ thông tin; phân công 1 lãnh đạo phụ trách và 1 đầu mối thường trực; trang bị chữ ký số tổ chức.

Các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu khoa học có đào tạo trình độ tiến sĩ: hoàn thành ký số toàn bộ dữ liệu cơ sở đào tạo, người học, đội ngũ và kết nối API với hệ thống HEMIS; chấm dứt trắng dữ liệu văn bằng, chứng chỉ; số hóa 100% văn bằng, chứng chỉ cấp từ năm 2020 đến nay, văn bằng, chứng chỉ cấp mới cập nhật trong 5 ngày làm việc; phối hợp làm sạch dữ liệu người học gắn số định danh cá nhân.

Các trường cao đẳng, trung cấp và cơ sở giáo dục thường xuyên: chấm dứt tình trạng trắng dữ liệu; hoàn thành ký số dữ liệu cơ sở đào tạo, người học, đội ngũ trên cơ sở dữ liệu giáo dục nghề nghiệp và số hóa văn bằng, chứng chỉ theo lộ trình. Với cơ sở đã sáp nhập, giải thể hoặc chưa phát sinh đào tạo, Sở GD&ĐT nơi đặt trụ sở rà soát, xác định đơn vị kế thừa dữ liệu và phương án ký số thay thế.

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/giai-phap-cap-bach-hoan-thien-cac-co-so-du-lieu-cua-nganh-gd-dt-post793415.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/giai-phap-cap-bach-hoan-thien-cac-co-so-du-lieu-cua-nganh-gd-dt-post793415.html
Bài liên quan
Ngày Chuyển đổi số quốc gia 2026: Từ kiến trúc, nền tảng, dữ liệu đến kết quả thực chất
Chủ đề Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026 là: “Chuyển đổi số quốc gia: Từ kiến trúc, nền tảng, dữ liệu đến kết quả thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia”.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Giải pháp cấp bách hoàn thiện các cơ sở dữ liệu của ngành GD-ĐT