Theo đại diện nhà trường, những kiến thức lý thuyết mới chỉ là nền tảng ban đầu, chưa đủ để hành nghề luật một cách hiệu quả.
Đào tạo cử nhân lĩnh vực Pháp luật là xu thế tất yếu của xã hội về nhân lực có kiến thức pháp lý, phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Hiện nay, gần 100 trường đại học đào tạo lĩnh vực Pháp luật ở Việt Nam. Tuy nhiên, song song với số lượng, việc chú trọng chất lượng và kỹ năng để người học ra trường đáp ứng được nhu cầu thực tiễn là đòi hỏi cấp bách cho các cơ sở giáo dục đại học.
Lĩnh vực Pháp luật đứng trước nhiều cơ hội bứt phá
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường - giảng viên Khoa Luật và Lý luận chính trị của Trường Đại học Thủy lợi và là Trưởng Văn phòng Luật sư Chính pháp, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội bày tỏ: “Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó pháp luật được sử dụng như thước đo để đánh giá tính hợp pháp trong hành vi của mọi chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật. Trong bối cảnh phát triển kinh tế quốc tế và yêu cầu ngày càng cao về tính minh bạch trong các hoạt động kinh tế, xã hội đòi hỏi mức độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể ngày càng lớn.
Bên cạnh đó, khu vực Nhà nước và tư nhân đều có nhu cầu rất lớn về nhân lực lĩnh vực Pháp luật. Cụ thể, nhân lực lĩnh vực này có thể làm việc tại các cơ quan Nhà nước như tòa án, viện kiểm sát, cơ quan tư pháp… hoặc tại các doanh nghiệp, tổ chức tư nhân như công ty luật, công ty tư vấn. Ngoài ra, sinh viên tốt nghiệp ra trường còn có thể tham gia công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các lĩnh vực liên quan khác.
Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2024, có hơn 90 cơ sở đào tạo lĩnh vực Pháp luật, bao gồm cả trường đại học công và tư. Trong đó, 39 cơ sở đào tạo trình độ thạc sĩ và 10 cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực Luật học. Sự gia tăng này phản ánh nhu cầu xã hội lớn về đào tạo. Trung bình mỗi năm có khoảng từ 4.000 - 5.000 cử nhân Luật được đào tạo, tuy nhiên, con số này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về nguồn nhân lực pháp luật trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội.
Bởi vậy tiềm năng phát triển ngành luật ở Việt Nam, đặc biệt là bổ sung nhân lực và đội ngũ luật sư Việt Nam ở thời điểm hiện tại và tương lai là rất lớn. Trong đó, yêu cầu về đội ngũ luật sư chất lượng cao, am hiểu pháp luật quốc tế, có khả năng sử dụng ngoại ngữ thành thạo trở thành nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng”.

Nhận xét về triển vọng lĩnh vực Pháp luật, Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngô Hữu Phước - Phó trưởng khoa phụ trách Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho hay: "Đào tạo lĩnh vực Pháp luật đang đứng trước yêu cầu chuyển mình mang tính chiến lược. Đây không chỉ là bài toán đáp ứng nhu cầu nhân lực cho hệ thống tư pháp, mà còn là nền tảng của nền kinh tế thị trường hiện đại – nơi mọi hoạt động quản trị, tài chính, đầu tư, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế đều đòi hỏi một khung khổ pháp lý minh bạch, ổn định và chuyên nghiệp.
Tại Trường Đại học Kinh tế – Luật, đào tạo lĩnh vực Pháp luật được xác định là một trong những trụ cột học thuật, gắn với sứ mệnh cung ứng nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao cho sự phát triển của đất nước nói chung và khu vực phía Nam nói riêng. Trường định hướng liên ngành pháp luật – kinh tế – kinh doanh và quản lý, tạo nền tảng để sinh viên tiếp cận pháp luật như một công cụ quản trị phát triển bền vững, thay vì chỉ giới hạn trong khuôn khổ hành nghề truyền thống".

Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật, Đại học Huế cho hay: “Tôi cho rằng triển vọng của lĩnh vực đào tạo này rất rộng mở, hướng tới trang bị cho người học không chỉ kiến thức chuyên môn vững chắc mà còn các kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tự chủ và tinh thần trách nhiệm.
Hoạt động đào tạo cũng đang được đặt trong khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, phù hợp với Quyết định số 1056/QĐ-TTg ngày 13/9/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình tăng cường kiểm soát và nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật giai đoạn 2023-2030 và Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT ngày 14/3/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực Pháp luật trình độ đại học.
Đáng chú ý, từ năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ quy định ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào đối với lĩnh vực Pháp luật, tương tự như các ngành Sư phạm và Y khoa. Quy định này tiếp tục khẳng định sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước và xã hội đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực pháp lý trong giai đoạn mới”.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan - Trưởng khoa, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên cũng bày tỏ, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo lần đầu tiên quy định điểm sàn cho lĩnh vực Pháp luật là tín hiệu mạnh mẽ cho chủ trương chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đầu vào khối ngành đào tạo đặc thù.
“Tôi cho rằng đây là bước đi cần thiết, góp phần thiết lập “bộ lọc” ban đầu, giúp các cơ sở đào tạo tuyển chọn thí sinh có nền tảng kiến thức, tư duy và thái độ phù hợp với đặc thù ngành nghề. Khi chất lượng đầu vào được bảo đảm, quá trình đào tạo sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn, tạo điều kiện để người học tiếp thu kiến thức chuyên sâu và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp một cách bài bản, vững chắc.
Tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, triết lý đào tạo nhất quán theo hướng chú trọng chất lượng tuyển sinh, nuôi dưỡng tư duy pháp lý cho sinh viên ngay từ năm thứ nhất. Việc xác lập chuẩn đầu vào càng góp phần củng cố niềm tin của xã hội và phụ huynh” - cô Lan cho biết.

Đẩy mạnh thực hành giúp sinh viên có kỹ năng nghề nghiệp
Theo thầy Cường, lĩnh vực này đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu, am hiểu vững chắc hệ thống pháp luật, đồng thời phải có kỹ năng hành nghề tốt và đạo đức nghề nghiệp. Nếu thiếu một trong ba yếu tố cốt lõi, người hành nghề rất khó có thể hành nghề hiệu quả và đạt được những thành tựu nghề nghiệp.
Trong đó, người hành nghề cần có hệ thống kỹ năng nghề nghiệp vững vàng, đặc biệt là kỹ năng viết, kỹ năng trình bày, hùng biện, phân tích và tổng hợp nhằm chuyển hóa kiến thức thành sản phẩm cụ thể, bảo đảm hiệu quả trong hoạt động nghề nghiệp.
Các kỹ năng này không thể hình thành trong thời gian ngắn mà đòi hỏi quá trình học hỏi, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm thông qua thực tiễn công việc. Kiến thức có thể học được trong nhà trường, nhưng kỹ năng phải được rèn luyện lâu dài, thông qua những công việc cụ thể, có định hướng phát triển bản thân và không ngừng học hỏi từ thực tiễn từng vụ việc. Nếu có kiến thức tốt nhưng thiếu kỹ năng, hiệu quả công việc sẽ thấp, thậm chí có thể dẫn đến sai sót, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tổ chức, cá nhân, cũng như gây rủi ro cho chính người hành nghề.
Ví dụ như, để trở thành luật sư, người học phải tốt nghiệp trình độ cử nhân Luật, tham gia chương trình đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp, thực tập trong thời gian 12 tháng và tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự. Chỉ khi đạt yêu cầu, người tập sự mới được công nhận là luật sư theo quy định. Vì vậy, những người định hướng theo đuổi nghề luật sư cần trải qua quá trình đào tạo nghề và thực hành nghiêm túc, đồng thời phải có đam mê, năng lực, tố chất nghề nghiệp và sự kiên trì, nỗ lực rèn luyện trong thời gian dài mới có thể thành công với nghề.

Bên cạnh kỹ năng chuyên môn, các kỹ năng giao tiếp, ứng xử xã hội cũng là yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của người hành nghề luật. Vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng cần được chú trọng ngay từ khi lựa chọn theo đuổi nghề luật, chứ không phải chỉ đến khi hành nghề mới quan tâm đến vấn đề này.
“Những kiến thức lý thuyết được trang bị trong nhà trường mới chỉ là nền tảng ban đầu, chưa đủ để hành nghề luật một cách hiệu quả. Trên cơ sở đó, người học cần tiếp tục tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện các kỹ năng cần thiết và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn để trở thành luật sư chuyên nghiệp. Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ hiện nay có tư duy tốt, khả năng tiếp cận công nghệ và sử dụng ngoại ngữ vượt trội so với các thế hệ trước, tuy nhiên không phải ai cũng có đủ sự kiên trì và nhẫn nại để theo đuổi nghề lâu dài.
Do đó, các cơ sở đào tạo cần tăng cường thời lượng và chất lượng thực hành, mở rộng cơ sở thực tập, chú trọng đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn. Việc tăng cường các học phần thực hành, giúp sinh viên Luật tiếp cận sớm và sâu với thực tiễn nghề nghiệp, tương tự mô hình đào tạo trong lĩnh vực Y khoa, là yêu cầu cần thiết để sinh viên được trang bị đồng thời cả kiến thức và kỹ năng, có khả năng thích ứng nhanh với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp” – thầy Cường chia sẻ.
Để “học đi đôi với hành”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan cho biết, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên chú trọng lồng ghép các tình huống thực tiễn, tăng cường hoạt động thực tập, thực tế tại cơ quan, đơn vị vào chương trình đào tạo, qua đó giúp sinh viên sớm hình thành tư duy pháp lý và hiểu sâu về nghề ngay từ giảng đường.
Thực hiện chủ trương chung của nhà trường, Khoa tạo điều kiện để giảng viên tham gia bồi dưỡng chuyên môn, cập nhật công cụ số và phương pháp giảng dạy mới; mở rộng hợp tác thực hành, đẩy mạnh phản biện học thuật thông qua các hội thảo, tọa đàm trong nước và quốc tế, xây dựng văn hóa góp ý thẳng thắn trong sinh hoạt chuyên môn. Đội ngũ giảng viên cũng tích cực tham gia hoạt động thực tiễn như tư vấn pháp luật, hòa giải, làm Hội thẩm Tòa án nhân dân…
Nhà trường xác định phát triển đội ngũ là yếu tố cốt lõi trong bảo đảm và kiểm định chất lượng. Nhờ đó, Khoa Luật từng bước củng cố nội lực, lan tỏa tinh thần “chuẩn mực học thuật - giàu trải nghiệm nghề - tận tâm với người học”, góp phần khẳng định uy tín đào tạo pháp lý trong những năm qua.

Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long, trước những thay đổi của pháp luật và yêu cầu thực tiễn, chương trình đào tạo tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế luôn điều chỉnh, tăng tỷ trọng các học phần về kỹ năng, thực hành nghề luật, áp dụng phương pháp đào tạo gắn với hoạt động trải nghiệm, thực tế thông qua việc đưa sinh viên đi kiến tập, trải nghiệm nghề nghiệp ngay từ năm thứ nhất cho đến hết khóa học.
“Trong quá trình xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy và khảo sát nhu cầu việc làm, trường mời đại diện tòa án, viện kiểm sát, cơ quan nhà nước và các tổ chức hành nghề luật tham gia góp ý, thảo luận, bảo đảm sự tham vấn đầy đủ từ các bên liên quan.
Nhà trường thường xuyên tổ chức gặp mặt, ký kết biên bản ghi nhớ và triển khai kế hoạch phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc hướng dẫn sinh viên thực tập, thực tế và nghiên cứu khoa học. Đồng thời, hoạt động đào tạo được kết nối, chia sẻ với các đối tác trong và ngoài nước nhằm bảo đảm sinh viên được trang bị kiến thức gắn với thực tiễn, có khả năng hành nghề ngay sau khi tốt nghiệp.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia pháp lý được mời tham gia giảng dạy chuyên đề kỹ năng, hội thảo khoa học, qua đó truyền đạt kinh nghiệm thực tiễn cho sinh viên. Nhà trường xác định các cơ quan tư pháp, tổ chức hành nghề luật và doanh nghiệp sử dụng nhân lực pháp lý không chỉ là nơi tiếp nhận sinh viên thực tập mà là đối tác đồng hành trong quá trình đào tạo” – thầy Long chia sẻ.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc trang bị kỹ năng mới và năng lực thích ứng với môi trường hành nghề pháp lý hiện đại trở thành yêu cầu cấp thiết.
Chương trình đào tạo của Trường Đại học Luật, Đại học Huế chú trọng bổ sung các học phần về pháp luật trong kỷ nguyên số như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, an ninh mạng, giao dịch điện tử, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ trong kinh tế số và kinh tế xanh. Đồng thời, sinh viên được rèn luyện kỹ năng ứng dụng công nghệ trong tra cứu, xử lý thông tin pháp lý, tăng cường tiếng Anh pháp lý và tư duy phản biện.
Tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình được rà soát định kỳ, với chu kỳ 2 năm điều chỉnh cập nhật và 4 năm điều chỉnh tổng thể, có sự tham gia của các chuyên gia học thuật, cơ quan thực tiễn, nhà tuyển dụng và cộng đồng doanh nghiệp nhằm bảo đảm chuẩn đầu ra phản ánh sát yêu cầu hành nghề.
"Nhà trường đã xây dựng mạng lưới hợp tác với tòa án, viện kiểm sát, cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức hành nghề luật và doanh nghiệp trong, ngoài nước, hình thành hệ sinh thái đào tạo kết nối chặt chẽ giữa lý thuyết – thực hành – nghề nghiệp.
Sinh viên được tham gia thực tập chuyên sâu, học các chuyên đề do thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư và chuyên gia pháp lý trực tiếp giảng dạy; đồng thời tham dự phiên tòa giả định, diễn đàn nghề nghiệp và chương trình trải nghiệm môi trường làm việc thực tế.
Thông qua mô hình liên kết này, quá trình đào tạo không chỉ trang bị tri thức học thuật mà còn bồi dưỡng bản lĩnh nghề nghiệp, đạo đức hành nghề và tư duy trách nhiệm xã hội – những phẩm chất cốt lõi của người làm nghề luật trong Nhà nước pháp quyền" - thầy Phước chia sẻ.
Cũng theo thầy Phước, nội dung đào tạo không chỉ bao gồm các học phần pháp lý truyền thống mà còn mở rộng sang những lĩnh vực mới như pháp luật thương mại và đầu tư quốc tế, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ, quyền con người, môi trường và phát triển bền vững, pháp luật và công nghệ, quản trị và tuân thủ, cũng như giải quyết tranh chấp xuyên biên giới, trong đó có tranh chấp tài chính và đầu tư quốc tế.
Song song với việc cập nhật nội dung, phương pháp giảng dạy được chuyển hướng từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm thông qua mô hình học tập tình huống, mô phỏng tố tụng, nghiên cứu hồ sơ vụ việc và tranh biện học thuật.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, nhà trường chú trọng trang bị cho sinh viên kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu pháp luật, năng lực nghiên cứu số, hiểu biết về công nghệ pháp lý (legal tech) và khả năng thích ứng với môi trường hành nghề ứng dụng trí tuệ nhân tạo, nền tảng số. Mục tiêu không dừng ở đào tạo người “biết luật”, mà hướng tới hình thành đội ngũ có năng lực vận dụng pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa.