Từ tháng 10/2026, học bạ số có giá trị pháp lý tương đương học bạ giấy, mỗi học sinh được tạo lập một mã số hồ sơ học tập suốt đời.

Với các tỉnh miền núi như Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, đây là bước chuyển quan trọng trong quá trình số hóa giáo dục. Thực tế triển khai cho thấy nền tảng đã được tạo dựng, nhưng để học bạ số thực sự thuận lợi với học sinh vùng khó, bài toán về hạ tầng, dữ liệu, kỹ năng số và sự đồng hành của phụ huynh vẫn cần tiếp tục được tháo gỡ.
Không chỉ thay học bạ giấy bằng một bản điện tử
Ở những trường học vùng cao, mỗi lần học sinh chuyển trường, chuyển cấp hoặc gia đình cần xác nhận, sao lưu hồ sơ, giáo viên lại phải kiểm tra từng thông tin, in ấn, ký xác nhận. Với những gia đình ở xa trung tâm, một thủ tục tưởng như đơn giản đôi khi đồng nghĩa với cả ngày đi lại.
Học bạ số đang từng bước thay đổi cách làm đó. Thông tin về quá trình học tập của học sinh được cập nhật, quản lý trên môi trường số, có thể kế thừa khi các em chuyển trường hoặc lên cấp học mới. Khi gắn với mã hồ sơ học tập suốt đời, dữ liệu không còn bị chia cắt theo từng năm học, từng cấp học hay từng cơ sở giáo dục.
Tại Lai Châu, trong năm học 2025–2026, toàn tỉnh có 113.313 học sinh, trong đó 112.856 học bạ số được phát hành thành công, đạt 99,6%. Đây là tỷ lệ cao, đáng chú ý trong điều kiện Lai Châu có địa bàn rộng, nhiều trường học ở vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Song, vẫn còn 262 học bạ chưa nộp và 195 hồ sơ phát hành không thành công cho thấy quá trình hoàn thiện hồ sơ số vẫn đang tiếp tục được các cơ sở giáo dục rà soát, xử lý.

Theo Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT ngày 22/8/2026 của Bộ GD&ĐT (Thông tư 70), học bạ số được tạo lập đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng chuẩn dữ liệu, đủ nội dung và được ký số theo quy định thì có giá trị pháp lý như học bạ giấy, được sử dụng trong quản lý giáo dục, thủ tục hành chính và các giao dịch hợp pháp có liên quan.
Điểm đáng chú ý là quy định mới không dừng ở việc công nhận giá trị pháp lý của học bạ số. Mỗi người học được tạo lập một học bạ số duy nhất, gắn với mã số hồ sơ học tập suốt đời. Dữ liệu tạo lập phải được kiểm tra, đối chiếu, xác thực từ hồ sơ người học, dữ liệu định danh và dữ liệu quản lý giáo dục.
Như vậy, câu chuyện học bạ số thực chất là câu chuyện quản trị dữ liệu học sinh. Đó cũng là lý do Thông tư 70 yêu cầu mọi hoạt động tạo lập, cập nhật, phát hành, khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu học bạ số phải được lưu vết trên hệ thống; đồng thời phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người học.

Kinh nghiệm tại Sơn La cho thấy hướng đi này đang được triển khai gắn với mã định danh cá nhân. Theo ông Quàng Văn Lâm, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Sơn La, hiện 100% cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn đã tạo lập hồ sơ học bạ số theo quy định, sẵn sàng kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia. Trong đó, 243/243 trường tiểu học đã hoàn thành việc tạo lập, phát hành học bạ số; cấp THCS có 192/225 trường và cấp THPT có 32/42 trường triển khai.
Những con số này cho thấy khi học bạ số được đặt trong một hệ thống dữ liệu thống nhất, giá trị của nó không chỉ nằm ở việc “không cần giấy”.
Tháo gỡ những ‘điểm nghẽn’
Ở vùng cao, để một bộ hồ sơ số được tạo lập, phía sau màn hình máy tính vẫn là những điều kiện rất cụ thể: điện, Internet, thiết bị và con người.
Tại Lào Cai, ở các địa bàn như Mường Khương, Si Ma Cai, Bát Xát, Bắc Hà, địa hình rộng, dân cư phân tán; một số khu vực còn có “điểm lõm” viễn thông. Nhiều điểm trường lẻ chưa có Internet tốc độ cao ổn định, thiết bị đầu cuối còn thiếu.
Ông Ngô Hồng Cường, Hiệu trưởng Trường TH&THCS Na Lốc, xã Bản Lầu, tỉnh Lào Cai cho biết việc nhà trường chủ động cập nhật dữ liệu từ trước đã giúp quá trình triển khai học bạ số thuận lợi hơn.
“Nhà trường đã cập nhật thông tin số từ trước nên khi thực hiện học bạ số, các bước triển khai thuận lợi. Nhà trường đã hoàn thành cập nhật và sẵn sàng cho thời điểm học bạ số có giá trị pháp lý tương đương học bạ giấy” – ông Cường chia sẻ.

Ngành GD&ĐT tỉnh Lào Cai cũng chú trọng tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên, từ số hóa dữ liệu đến thực hiện ký số. Hạ tầng tiếp tục được đầu tư, tỷ lệ thôn, bản có Internet băng rộng đạt trên 98%. Tại các trường PTNT, PTDTBT ở Y Tý, Pha Long, A Mú Sung, việc cập nhật dữ liệu học sinh, điểm số và ký số học bạ số từng bước trở thành công việc thường xuyên.
Sơn La cũng đang đối mặt với những khó khăn về hạ tầng. Một số trường vùng sâu, vùng xa, biên giới còn thiếu máy tính, kết nối Internet không liên tục; một bộ phận phụ huynh dân tộc thiểu số chưa có thiết bị thông minh hoặc hạn chế kỹ năng sử dụng công nghệ. Một số dữ liệu cũ chưa được chuẩn hóa, số định danh cá nhân của học sinh chưa cập nhật đầy đủ, ảnh hưởng đến tiến độ cấp mã hồ sơ học tập suốt đời.
Những khó khăn này đặc biệt đáng lưu ý với các địa phương miền núi, bởi cùng một quy trình nhưng điều kiện thực hiện giữa trường trung tâm và điểm trường xa có thể rất khác nhau.
Bởi vậy, học bạ số không thể được triển khai theo cách “cấp trên hướng dẫn, cơ sở tự thực hiện” mà cần cơ chế hỗ trợ sát với từng địa bàn.
Đặc biệt, với Lai Châu, 262 học bạ chưa nộp và 195 học bạ phát hành không thành công cần được xem như một danh sách cần xử lý cụ thể, chứ không chỉ là phần trăm còn thiếu trong báo cáo. Mỗi hồ sơ phải được xác định nguyên nhân để có giải pháp tương ứng.

Để học bạ số thực sự đến được từng học sinh
Khi học bạ số chính thức có giá trị pháp lý tương đương học bạ giấy, yêu cầu đối với nhà trường cũng thay đổi. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là tạo lập và phát hành học bạ số, thì nay cần quan tâm nhiều hơn tới chất lượng dữ liệu, khả năng khai thác và tính an toàn của hồ sơ.
Thông tư 70 quy định học bạ số chỉ được sử dụng khi dữ liệu đã được tạo lập, cập nhật, xác nhận và ký số đúng quy định; phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời, khách quan, thống nhất, có khả năng kiểm tra, xác thực và truy xuất nguồn gốc. Việc khai thác, chia sẻ dữ liệu cũng phải giới hạn trong phạm vi cần thiết, đúng mục đích và đúng thẩm quyền.

Với Lai Châu, trước mắt cần rà soát dữ liệu theo từng trường, từng nhóm nguyên nhân; đối chiếu thông tin học sinh với dữ liệu định danh, tránh tình trạng học bạ đã phát hành nhưng thông tin chưa thống nhất.
Các trường vùng sâu, vùng xa, biên giới cần được hỗ trợ phù hợp về thiết bị và đường truyền. Việc đánh giá chuyển đổi số cũng không nên chỉ dựa vào tỷ lệ hồ sơ đã phát hành mà cần xem nhà trường có thể vận hành hệ thống ổn định hay không.
Cùng với hạ tầng, con người vẫn là yếu tố quyết định. Tập huấn giáo viên cần chuyển từ hướng dẫn thao tác sang thực hành tình huống cụ thể.
“Phụ huynh cũng cần được đồng hành trong quá trình chuyển đổi số. Không phải gia đình vùng cao nào cũng có thiết bị thông minh hoặc thường xuyên sử dụng nền tảng số. Nhà trường vẫn cần hướng dẫn trực tiếp, nhất là khi học sinh chuyển trường, chuyển cấp hoặc gia đình cần khai thác thông tin học tập” – bà Trần Thị Mỹ Tâm, Hiệu trưởng Trường PTDTNT THPT tỉnh Lai Châu chia sẻ.
Bên cạnh đó, bảo mật dữ liệu phải được đặt song hành với số hóa. Học bạ số chứa thông tin cá nhân và quá trình học tập của người học; vì vậy, cán bộ, giáo viên tham gia cập nhật, khai thác dữ liệu cần tuân thủ nghiêm quy định về bảo vệ thông tin.
Từ Lai Châu đến Lào Cai, Sơn La, chuyển đổi số giáo dục ở vùng cao đang bước sang giai đoạn mới. Nhưng đích đến của học bạ số không phải là đưa được bao nhiêu phần trăm hồ sơ lên hệ thống. Giá trị cuối cùng là mỗi học sinh có một hồ sơ học tập chính xác, an toàn, có thể xác thực và kế thừa trong suốt hành trình học tập.