Thực tiễn triển khai chương trình sức khỏe học đường cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và thực thi vẫn còn đáng kể.

Quy mô chương trình sức khỏe học đường ngày càng được mở rộng, song thực tiễn triển khai tại các địa phương cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và thực thi vẫn còn đáng kể. Chênh lệch điều kiện giữa các vùng, thiếu nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, cùng những hạn chế trong tổ chức và phối hợp đang là những điểm nghẽn cần được nhận diện rõ để chính sách thực sự đi vào từng nhà trường.
Trong quá trình triển khai chương trình sức khỏe học đường, sự khác biệt về điều kiện giữa các địa phương là một thực tế rõ nét. Thanh Hóa là một ví dụ điển hình khi có gần 2.000 cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông, với gần 1 triệu học sinh, trải rộng từ đô thị, đồng bằng, ven biển đến miền núi cao, vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Theo ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa, chính sự đa dạng về địa bàn khiến nhu cầu đặt ra đối với chương trình sức khỏe học đường không giống nhau. Tỉnh xác định nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân viên y tế chuyên trách và lực lượng phối hợp; phòng y tế, tủ thuốc, thiết bị y tế và các điều kiện cơ sở vật chất là những vấn đề cần quan tâm.

Sự chênh lệch càng thể hiện rõ tại khu vực biên giới. Thanh Hóa có khoảng 200 km đường biên giới giáp Lào, với gần 40 cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông; toàn tỉnh có 57 xã vùng đặc biệt khó khăn, trong đó 16 xã biên giới. Ở những địa bàn này, việc tiếp cận các điều kiện chăm sóc sức khỏe học đường khó khăn hơn nhiều so với khu vực đô thị.
Đơn cử với bữa ăn học đường, học sinh nội trú, bán trú tại các địa bàn khó khăn hiện chủ yếu dựa vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Mức hỗ trợ này mới bảo đảm những điều kiện tối thiểu, trong khi khả năng huy động thêm nguồn lực tại chỗ còn hạn chế. Theo ông Nguyễn Văn Dĩnh, nếu không có thêm nguồn lực, việc nâng chất lượng bữa ăn học đường ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ gặp nhiều khó khăn.

Quá trình tham gia triển khai mô hình điểm Bữa ăn học đường kết hợp tăng cường hoạt động thể lực tại 10 tỉnh, thành đại diện cho 5 vùng sinh thái, bà Nguyễn Quỳnh Vân, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH cũng nhận thấy sự khác biệt không nhỏ giữa các địa phương. Có nơi một suất ăn 35.000-40.000 đồng là điều bình thường, nhưng cũng có nơi để có một suất ăn 15.000 đồng cho học sinh đã là sự co kéo của gia đình và nhà trường.
Những khác biệt đó cho thấy, nếu áp dụng một cách hỗ trợ và triển khai đồng đều cho tất cả địa phương, chương trình khó có thể giải quyết đúng những nhu cầu thực tế. Đây cũng là điểm mà UNICEF Việt Nam đặc biệt lưu ý trong cách tiếp cận sức khỏe học đường.
Bà Lê Anh Lan, Chuyên gia Giáo dục, UNICEF Việt Nam, cho rằng sức khỏe học đường không nên chỉ được hiểu là hoạt động khám, chữa bệnh, mà cần được tiếp cận một cách tổng thể, để trẻ em được sống,học tập, phát triển và được bảo vệ an toàn, lành mạnh và hòa nhập nhất trong trường học.
Theo cách tiếp cận quyền trẻ em, mọi hoạt động phải bảo đảm nguyên tắc không phân biệt đối xử, đặt lợi ích tốt nhất của trẻ lên hàng đầu, bảo đảm quyền sống còn và phát triển, đồng thời tôn trọng quyền được lắng nghe và tham gia của trẻ.
Từ đó, UNICEF khuyến nghị việc triển khai cần theo hướng phổ cập nhưng có hỗ trợ tăng cường theo nhu cầu, thay vì “cào bằng”. Nhóm trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em khuyết tật, trẻ em thuộc gia đình nghèo, học sinh ở vùng sâu, vùng xa hay những trường học chịu nhiều tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu cần được ưu tiên phù hợp với điều kiện thực tế.

Nếu sự khác biệt về điều kiện tạo nên khoảng cách giữa các địa phương, thì ở cấp nhà trường, những hạn chế về nhân lực, cơ sở vật chất, chuyên môn và năng lực tổ chức lại là những điểm nghẽn trực tiếp cản trở việc đưa chính sách vào thực tế.
Từ kinh nghiệm triển khai mô hình điểm Đề án 41 năm 2020-2021, với vai trò là ủy viên ban điều hành về bữa ăn học đường và giáo dục dinh dưỡng của mô hình, PGS.TS Bùi Thị Nhung, Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nhấn mạnh vai trò của cơ chế, chính sách trong việc bảo đảm tính bền vững.
Theo bà, để một trường tổ chức được bữa ăn học đường cần có điều kiện cần và đủ như cần có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực, có kiến thức chuyên môn về tổ chức bữa ăn học đường, kinh phí bữa ăn đủ để học sinh có được bữa ăn cân bằng dinh dưỡng, giáo dục dinh dưỡng để thay đổi thói quen ăn uống của học sinh, kết nối giữa gia đình và nhà trường để phối hợp giữa bữa ăn ở trường và ở nhà.
Thực tế cho thấy còn nhiều trường ở khu vực khó khăn, khu vực miền núi còn khó khăn về cơ sở vật chất, chưa đáp ứng được các điều kiện tối thiểu của bếp ăn trường học, dụng cụ nấu ăn còn thiếu, chưa có cơ chế cho việc sửa chữa và mua bổ sung khi dụng cụ bị hỏng. Ở những trường khó khăn, việc thay thế khay nhựa bằng khay inox để bảo đảm vệ sinh cũng rất khó khăn nếu như không huy động được nguồn lực xã hội.

Nhân lực nấu ăn cho bếp ăn trường học là một điểm nghẽn khác ở tất cả các khu vực trên cả nước. Nhân viên chế biến thức ăn cho học sinh thường không thuộc biên chế, chủ yếu làm việc theo hợp đồng ngắn hạn với mức lương thấp, nên khó tuyển được người có kỹ thuật nấu ăn, thường là những người lao động giản đơn và hay nghỉ việc, nên rất khó khăn cho nhà trường khi triển khai bữa ăn học đường.
Trong mô hình điểm, khi trường Tô Múa không đủ nhân lực để thực hiện bữa ăn học đường khi phải chế biến cầu kỳ hơn, đa dạng hơn, phụ huynh đã phải thay nhau đến trường để hỗ trợ cùng nhân viên bếp nhà trường trong việc chế biến thức ăn cho học sinh. Như vậy cho thấy bài toán dinh dưỡng học đường không đơn thuần là xây dựng thực đơn, mà còn phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nhân lực, khả năng tổ chức và duy trì hoạt động của nhà trường.
Thêm đó, với các trường sử dụng dịch vụ cung cấp suất ăn trường học đặt ra yêu cầu về cơ chế giám sát, đánh giá phù hợp để bảo đảm an toàn thực phẩm và chất lượng suất ăn.
Cùng với đó, tình trạng thừa cân, béo phì ở học sinh gia tăng nhanh, đặc biệt tại khu vực thành thị. Vì vậy, sức khỏe học đường không thể chỉ tập trung vào việc bảo đảm học sinh có bữa ăn, mà phải hướng tới bữa ăn cân bằng dinh dưỡng, đa dạng, hợp lý, giáo dục dinh dưỡng và hoạt động thể lực phù hợp.
Một khoảng trống khác được UNICEF chỉ ra là sự tham gia thực chất của học sinh. Theo bà Lê Anh Lan, trong các hoạt động về dinh dưỡng, nước sạch, vệ sinh, an toàn hay sức khỏe tâm thần, cần đặt câu hỏi liệu nhà trường đã thực sự tham vấn học sinh hay chưa; các hoạt động có phù hợp với nhu cầu, mong muốn và năng lực của các em hay không. Ngay cả việc theo dõi, đánh giá cũng cần quan tâm đến mức độ hài lòng của học sinh khi thụ hưởng các dịch vụ.
Theo cách tiếp cận quyền trẻ em, học sinh không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể có quyền do vậy các em cần được lắng nghe và tham gia vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến mình.
Từ thực tiễn, nhiều ý kiến có cùng điểm chung: điểm nghẽn lớn không nằm ở việc thiếu chủ trương, mà nằm ở khả năng chuyển hóa chủ trương thành hành động cụ thể và duy trì hành động đó trong thực tế.
Theo bà Nguyễn Quỳnh Vân, bốn vấn đề lớn cần được nhìn nhận là nguồn lực; năng lực tổ chức và triển khai; tính liên tục của nguồn lực và sự phối hợp giữa các bên; tính tuân thủ - điểm nghẽn cơ bản và cốt yếu.
Đây là những yếu tố quyết định một chính sách có thực sự đi vào từng nhà trường hay chỉ dừng ở các quy định, kế hoạch. Khi chưa có một khung pháp lý đủ mạnh và thống nhất, việc thực hiện các yêu cầu về dinh dưỡng học đường vẫn khó bảo đảm đồng bộ, liên tục và lâu dài.
Vì vậy, yêu cầu luật hóa dinh dưỡng học đường đã trở nên cấp thiết, cần sớm được nghiên cứu và triển khai để tạo nền tảng pháp lý cho việc thực hiện thống nhất, hiệu quả và bền vững. Luật Dinh dưỡng học đường ra đời nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, nâng cao tầm vóc thế hệ trẻ.
Từ góc nhìn của UNICEF, cách tiếp cận toàn trường và liên ngành là cần thiết để bảo đảm sức khỏe học đường được nhìn nhận một cách toàn diện. Điều này bao gồm không chỉ y tế mà còn dinh dưỡng, sức khỏe tâm thần, bảo vệ trẻ em, nước sạch, vệ sinh, kỹ năng sống, môi trường học tập an toàn và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, UNICEF cũng đang hướng tới cách làm kết hợp giữa Trung ương và địa phương: từ nghiên cứu, xây dựng khung, tài liệu ở cấp trung ương đến triển khai, đánh giá tại địa phương để nhận diện điểm nghẽn và phản hồi trở lại quá trình xây dựng chính sách.
Từ thực tế Thanh Hóa, sự chênh lệch về điều kiện giữa các vùng cũng cho thấy không thể giải quyết bài toán sức khỏe học đường bằng một cách tiếp cận duy nhất. Những địa bàn khó khăn cần được ưu tiên nguồn lực; những nhóm trẻ yếu thế cần được hỗ trợ theo nhu cầu; còn nhà trường phải có đủ điều kiện về con người, cơ sở vật chất và chuyên môn để thực hiện.
Suy cho cùng, khoảng cách cần thu hẹp không chỉ là khoảng cách giữa các vùng miền, mà còn là khoảng cách giữa một chính sách được ban hành và một chính sách thực sự tạo ra thay đổi trong đời sống học sinh. Khi những điều kiện tối thiểu chưa đồng đều, khi nhân lực và cơ sở vật chất còn thiếu, khi học sinh chưa thực sự được lắng nghe, thì mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ em vẫn còn một chặng đường dài để hiện thực hóa.
Nhận diện đúng những điểm nghẽn ấy là bước đầu tiên để chương trình sức khỏe học đường chuyển từ yêu cầu trên văn bản thành những hoạt động thường xuyên, phù hợp và có chất lượng tại từng nhà trường.