Văn hóa

Từ chiến trường khốc liệt đến khát vọng hòa bình

Khánh Vy - Yến Nhi 27/04/2026 18:54

Tròn 51 năm kể từ ngày chiến sĩ tình báo Tư Cang hoạt động tại vùng Đất thép thành đồng, nhưng những dòng hồi ức của ông về nơi đây vẫn vẹn nguyên, sống động như chỉ vừa mới hôm qua.

Đại tá Tư Cang nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2006. Ảnh: Tư liệu.
Đại tá Tư Cang nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2006. Ảnh: Tư liệu.

Ký ức phơi bày tội ác

Hồi ký “Nước mắt ngày gặp mặt” của Đại tá Nguyễn Văn Tàu xuất bản lần đầu năm 1989, là một tác phẩm giàu cảm xúc về cuộc đời người chiến sĩ tình báo. Cuốn sách tái hiện chân thực 28 năm hoạt động bí mật của tác giả trong lòng địch. Chia sẻ về cảm hứng viết nên tác phẩm, Đại tá Tư Cang bày tỏ: “Nếu mình không viết, người ta sẽ không biết cuộc chiến tranh khốc liệt đến mức nào. Nhất là lớp trẻ, thanh niên, cần phải hiểu cha ông đã chiến đấu gian khổ ra sao, để trân trọng hơn nền hòa bình hôm nay”.

“…Từ bìa xóm vẳng đến tiếng ru con của một thiếu phụ: ‘Ồ ơi! Cha con đánh giặc đường xa/Êm giặc cha về. Ồ ơi… êm giặc cha về… Cha ở với con’…”. Trong không gian tĩnh mịch của rừng đêm, giọng hát bất chợt cất lên như xoáy sâu vào tâm can người chiến sĩ tình báo. Tiếng hát khơi dậy nỗi nhớ nhà, nhớ vợ, thương con đến quặn thắt. Người “cha” trong lời ru ấy là ai? Một người lính đang náu mình ngoài vòng rào đồn giặc, hay một chiến sĩ trong đội hình chờ giờ xuất kích?

Đó là những dòng hồi ức xúc động tại vùng đất Củ Chi trong những ngày giữa tháng 4/1975 của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang, Trần Văn Quang, 98 tuổi), nguyên Chính ủy Lữ đoàn 316 - Lữ đoàn đặc công biệt động.

Thời điểm ấy, ông Tư Cang đang học tập tại Hà Nội thì nhận lệnh trở lại miền Nam, tiếp tục đảm nhiệm công tác tình báo cho chiến trường. Những trang lịch sử được lật giở qua cuốn hồi ký “Nước mắt ngày gặp mặt”, xuất bản lần đầu năm 1989 và được tái bản nhiều lần sau đó.

Từ những năm 1966 - 1967 trở đi, chiến trường miền Nam chứng kiến sự ngã xuống của hàng trăm, hàng nghìn chiến sĩ và người dân. Đặc biệt tại mặt trận Củ Chi, quân đội Mỹ tăng cường lực lượng, tiến hành Chiến tranh cục bộ bằng các cuộc càn quét quy mô lớn dọc hai bên sông Sài Gòn. Trong đó, trận càn Cedar Falls vào tháng 2/1967 với hai vạn quân Mỹ thay nhau càn quét suốt một tháng tại “khu Tam giác sắt” Củ Chi - Bến Cát đã biến nơi đây thành một dải “đồng hoang cỏ cháy”.

Những tháng ngày ở vùng “Đất thép” trở thành chương ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời ông Tư Cang. Hoạt động bí mật, sống dưới lòng đất và luôn trong trạng thái cảnh giác cao độ, ông thấm thía rằng cuộc chiến không chỉ diễn ra nơi họng súng, mà còn hiện hữu trong từng chi tiết nhỏ - từ việc gia cố, ngụy trang từng mét hầm đến vận chuyển lương thực và những bản tin mật.

Nhắc về sự khốc liệt ở Địa đạo Củ Chi, ông Tư Cang kể: “Củ Chi là chiến trường mà Mỹ để ý dữ lắm. Tối ngày quân Mỹ cứ đem xe ủi đến dò tìm nắp địa đạo của mình để bắt”. Những lúc người chiến sĩ nép mình dưới hầm, tiếng xích xe tăng địch nghiến trên đầu vang lên chát chúa, làm rung chuyển những vách đất mỏng manh.

“Ngày đó, tôi cùng 3 - 4 chiến sĩ ngồi trong hầm bí mật tại Sở Phú Hòa Đông, Củ Chi, thì quân Mỹ đưa một chiếc xe rất nặng, khoảng 40 - 50 tấn, ủi qua đúng vị trí mình đang ẩn náu. Chiếc xe cán qua, nắp hầm nghiêng đi - tức là đã lộ. Anh em nghĩ phen này không thoát. Nhưng may sao, xe lại ủi trúng bụi tre đổ xuống, che kín lại. Vậy là thoát, nghĩ cũng hên”, ông xúc động nhớ lại.

Đại tá Tư Cang gia nhập lực lượng giải phóng, sống và chiến đấu tại vùng này từ đầu năm 1962. Khi trở lại lần thứ hai vào năm 1975, dọc hai bên sông đã trở nên trơ trụi vì chất độc hóa học do Mỹ rải xuống. Dù Hiệp định Paris đã được ký kết từ năm 1973 và quân Mỹ đã rút đi hơn hai năm, màu xanh vẫn chưa thể hồi sinh trên vùng đất từng tràn đầy sức sống. Những rặng bần, rặng mắm trơ trọi, cành nhánh khẳng khiu vươn lên nền trời như những “nhân chứng sống” tố cáo tội ác của quân xâm lược.

Trước cảnh điêu tàn ấy, lòng căm thù không khiến người chiến sĩ chùn bước, mà càng hun đúc thêm ý chí và bản lĩnh kiên cường cho những người bám trụ như ông Tư Cang trong cuộc đối đầu cuối cùng. Nhìn những cây cầy, cây bần, cây mắm oằn mình chống chọi với bom giày đạn xéo, cùng biết bao chiến sĩ và dân lành vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, người chiến sĩ tình báo không thể ngăn dòng nước mắt. “Đã đến lúc bọn Mỹ phải chịu thua trắng tay trước một dân tộc anh hùng”, ông kiên quyết dặn lòng.

tu-chien-truong-khoc-liet-den-khat-vong-hoa-binh-1.jpg
Hình ảnh chiến sĩ tình báo Tư Cang ngày còn trẻ. Ảnh: Khánh Vy.

Tình quân dân khăng khít

Nhiệm vụ tình báo đòi hỏi ở người chiến sĩ một tinh thần thép, cái đầu lạnh cùng tư duy nhạy bén, sắc sảo. Ông Tư Cang chia sẻ: “Trong bức thư năm 1948 Bác Hồ gửi cho lực lượng tình báo, Người có nói: ‘Muốn biết địch thì phải có tình báo giỏi. Muốn địch không biết ta cũng phải có tình báo giỏi’. Đó là tầm quan trọng của công tác tình báo trong chiến tranh”. Thế nhưng, trong những thời khắc “ngàn cân treo sợi tóc”, khi ranh giới giữa sống - chết trở nên mong manh, bản lĩnh thôi là chưa đủ; chính sự gắn bó, hợp sức giữa quân và dân mới thực sự là “lá chắn thép”.

Ông Tư Cang vẫn không quên buổi chiều hôm ấy, khi ông và đồng đội tận mắt chứng kiến một cảnh tượng đau thương tột cùng tại ấp chiến lược Phú Hòa Đông. Giữa vùng bình địa hoang tàn, anh Mần - một người nông dân chất phác, hiền lành trong xóm - gục đầu, ôm mặt khóc tức tưởi trên nắp hầm trú ẩn vừa bị bom Mỹ đánh sập, nơi cả gia đình anh bị chôn vùi. Ông cùng các chiến sĩ vội đến giúp đưa thi thể mẹ, vợ và ba đứa con của anh lên để lo hậu sự.

Khi ấy, anh Mần không còn khóc, cũng chẳng thể nói thành lời. Anh lặng lẽ đào năm ngôi huyệt trước sân nhà. Mọi việc xong xuôi, anh cất tiếng gọi theo, giọng khàn đặc, đứt quãng: “Anh Tư… cho tôi theo với… Tôi còn ai đâu?”. Ông Tư Cang nghẹn ngào vỗ vai: “Đi tốt thôi… Mình càng đông, càng mau đến ngày thắng lợi”. Trong khoảnh khắc ấy, nỗi đau riêng của một người con, người chồng, người cha đã hòa vào nỗi đau chung của cả dân tộc, hóa thành sức mạnh tinh thần thôi thúc anh Mần và đồng đội chiến đấu đến cùng - để những buổi chiều tang tóc như thế không bao giờ lặp lại.

Bên cạnh những ký ức đau thương, vẫn còn đó những kỷ niệm ấm áp, nghĩa tình. Đêm trở về chiến trường cũ giữa tháng 4/1975, xuồng của ông Tư Cang rẽ nước dưới ánh trăng mờ. Qua một khúc quanh, ông nhận ra ấp Bến Đình thân thương (xã Nhuận Đức, TPHCM) - nơi từng chở che, nuôi dưỡng những người con xa quê. Ông nhớ những buổi trưa ngồi dưới tán cây, hái măng cụt, chôm chôm trĩu quả, thơm ngon, ngọt lịm - những hương vị giản dị mà khó quên.

Người dân phương Nam vốn đôn hậu, hào sảng, luôn sẵn lòng nhường cơm sẻ áo cho bộ đội. “Đồng bào có gì cũng chia cho bộ đội, nếu không thì khó mà trụ nổi, khắc nghiệt lắm”, ông Tư Cang chia sẻ.

Ngày 30 Tết năm 1967, các chiến sĩ phải bám trụ dưới hầm từ sáng đến đêm để tránh trận càn dữ dội của Mỹ. Đến khuya, vừa lên khỏi hầm, ông đã thấy người dân gánh thịt heo, dưa giá chờ sẵn. Dẫu hoàn cảnh hiểm nguy, tấm lòng của nhân dân vẫn không hề vơi cạn. Khi thiếu thốn lương thực, vật dụng, họ sẵn sàng gánh gạo, mang pin, mở cửa cho bộ đội vào tắm giặt, ăn uống… Chính tình cảm đùm bọc sâu nặng ấy đã giúp người chiến sĩ có được những giây phút bình yên hiếm hoi giữa khói lửa chiến tranh.

“Qua đó mới thấy, quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, ông khẳng định.​

tu-chien-truong-khoc-liet-den-khat-vong-hoa-binh-2.jpg
Đại tá Tư Cang chia sẻ những câu chuyện lịch sử, tháng 4/2026. Ảnh: Yến Nhi.

Tiếp nối mạch ngầm tinh thần dân tộc

Giữa những ngày tháng Tư lịch sử, gặp lại Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), ta không chỉ thấy một nhân chứng của trang sử hào hùng đã qua, mà còn bắt gặp một “tri âm” của quá khứ - người đang miệt mài nối nhịp cầu ký ức cho thế hệ mai sau. Với ông, nếu không viết, không kể, những trang sử oanh liệt ấy rồi sẽ chỉ còn là những con số vô tri, thay vì trở thành bài học sống động về giá trị của hai chữ “Độc lập” được đánh đổi bằng máu và nước mắt.

Lịch sử trong hồi ức của người cựu sĩ quan tình báo lẫy lừng bắt đầu từ những bước chân vạn dặm. Ông nhớ về năm 1954, khi nghe theo tiếng gọi của Đảng tập kết ra Bắc, rồi sau đó là cuộc hành quân lặng lẽ kéo dài suốt 100 ngày đêm, đi bộ trở lại miền Nam để tiếp tục chiến đấu. “Rời gia đình đi đánh Pháp 9 năm, rồi theo lời Đảng tập kết ra Bắc 7 năm từ năm 1954 - 1962, sau đó lại trở về đây, đi bộ suốt 100 ngày”, ông bồi hồi chia sẻ.

Đó là hành trình mà lý tưởng trở thành kim chỉ nam, giúp những đôi chân trần vượt qua mọi khắc nghiệt để nối liền dải non sông bị chia cắt. Bước sang thập niên 1960, khi miền Nam trở thành “lòng chảo lửa” với sự hiện diện của quân viễn chinh Mỹ cùng các lực lượng từ Úc, Thái Lan, Hàn Quốc…, bản lĩnh con người Việt Nam tiếp tục được thử thách và khẳng định qua những dấu mốc như Bình Giã, Đồng Xoài.

Đỉnh cao của tư duy chiến lược là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Theo lời kể của người tình báo lão luyện, đây là chiến dịch mang tầm nhìn vĩ mô của những nhà lãnh đạo lỗi lạc như Tổng Bí thư Lê Duẩn, đánh trực diện vào ý chí xâm lược ngay tại các đô thị.

Ông Tư Cang chia sẻ bằng giọng hào sảng: “Đúng theo lời Bác Hồ nói, Mỹ cút thì Ngụy mới nhào, nên mình làm đúng lời Bác dặn, đánh Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào… đánh vào hàng chục thành phố để tạo ra làn sóng đòi rút quân ngay trên đất Mỹ”. Chính đòn quyết định ấy đã mở đường cho ngày toàn thắng, dù cái giá phải trả là vô cùng to lớn.

Để có được ngày vui thống nhất Bắc - Nam một nhà, máu của biết bao đồng đội đã thấm đẫm từng tấc đất quê hương. Giọng ông trầm xuống khi nhắc về 81 ngày đêm tại Quảng Trị hay những trận đánh ở Củ Chi - “đất thép”. Ông kể, một đơn vị 45 người mà có tới 27 người hy sinh hoặc bị thương. Những hy sinh oanh liệt ấy đã khắc ghi nên các “địa chỉ đỏ” - nơi, theo ông, không chỉ là di tích, mà còn là không gian nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Củ Chi “đất thép”, Quảng Trị kiên cường hay nhà tù Phú Quốc… mỗi nơi đều mang trong mình một phần linh hồn của những người đã ngã xuống vì đại nghĩa.

Ý nghĩa của các “địa chỉ đỏ” không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn di vật, mà còn ở vai trò truyền lửa cho thế hệ trẻ. Đến với những không gian lịch sử ấy, người trẻ được “chạm” vào quá khứ để hiểu rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có. Đó là kết tinh của lòng yêu nước nồng nàn, của ý chí “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước”. Những địa chỉ ấy cũng nhắc nhở trách nhiệm của người đang sống đối với người đã khuất - trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử quý báu của cha ông.

Sau ngày 30/4/1975, đất nước bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, tự do và đổi mới. Đại tá Nguyễn Văn Tàu nhận định, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đổi mới thành công để hôm nay tiến vào giai đoạn vươn mình mạnh mẽ. Ông tin tưởng rằng với năng lực và ý chí của con người Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Tầm nhìn đến năm 2045 - dấu mốc 100 năm thành lập nước - sẽ không xa vời nếu biết tận dụng tốt thời cơ và phát huy nội lực.

Thông điệp tâm huyết nhất mà người anh hùng gửi gắm tới lớp thanh niên là hai chữ giản dị mà sâu sắc: “Ráng học”. Ông nhấn mạnh: “Lớp trẻ bây giờ phải siêng năng học tập để giữ gìn truyền thống dân tộc. Nhìn lại lịch sử từ Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo đến thời đại Hồ Chí Minh, chưa một thế lực ngoại bang nào có thể khuất phục dân tộc này nếu chúng ta đồng lòng và có trí tuệ”.

Khép lại câu chuyện với người anh hùng, đọng lại không chỉ là niềm tự hào về quá khứ, mà còn là sự thấu cảm sâu sắc về trách nhiệm của người đang sống. Những giọt nước mắt trong ngày vui thống nhất năm xưa chính là ngọn hải đăng soi sáng cho khát vọng vươn lên của mỗi người trẻ Việt Nam hôm nay.

Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Đại tá Nguyễn Văn Tàu hoạt động mưu trí trong lòng địch, trực tiếp chỉ huy Cụm tình báo H.63 huyền thoại và bảo vệ điệp viên chiến lược Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung). Không chỉ là người lính “ẩn mình” xuất sắc, ông còn giữ cương vị Chính ủy Lữ đoàn Đặc công 316, trực tiếp tham gia đánh chiếm cầu Rạch Chiếc trong ngày toàn thắng 30/4/1975. Với những cống hiến thầm lặng nhưng oanh liệt, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2006.

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/tu-chien-truong-khoc-liet-den-khat-vong-hoa-binh-post775724.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/tu-chien-truong-khoc-liet-den-khat-vong-hoa-binh-post775724.html
Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Từ chiến trường khốc liệt đến khát vọng hòa bình