Sau sắp xếp, CBQL các nhà trường khai thác dữ liệu số, AI; phân quyền để điều hành nhiều cơ sở, kiểm soát chất lượng và giảm áp lực hành chính.

Mục tiêu không chỉ là giảm giấy tờ mà quan trọng hơn là để thông tin đến đúng người, công việc được xử lý tại nơi phát sinh và chất lượng giữa các cơ sở được kiểm soát theo cùng một yêu cầu.
Trường Tiểu học Võ Thị Sáu (phường Hải Châu, TP Đà Nẵng) hiện có 3 cơ sở với 63 lớp, 1.914 học sinh và 114 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Với quy mô này, nếu ban giám hiệu phải di chuyển thường xuyên giữa các cơ sở để kiểm tra hồ sơ, nhận báo cáo, ký duyệt từng công việc thì thời gian dành cho điều hành sẽ bị chia nhỏ.
Bà Đỗ Thị Lê, Hiệu trưởng nhà trường, cho rằng, yêu cầu đầu tiên là phải có thông tin đủ nhanh để người quản lý biết ở các cơ sở đang diễn ra những gì. Nhà trường vì thế khai thác nhiều kênh công nghệ để nhận báo cáo, cập nhật tình hình hằng ngày. “Nếu không có công nghệ hỗ trợ thì không cách gì nhà trường quán xuyến tốt công tác quản lý với số lượng điểm trường và học sinh đông như vậy” - bà Lê nói.

Từ nhu cầu quản lý thực tế, trường từng bước thay đổi cách lưu trữ hồ sơ. Google Drive trước đây được sử dụng để lưu tài liệu nhưng không đáp ứng yêu cầu về dung lượng và ký duyệt. Nhà trường sau đó đặt hàng đối tác xây dựng hệ thống quản lý riêng, tích hợp AI.
Theo bà Đỗ Thị Lê, điểm cần thiết của hệ thống không chỉ là lưu trữ hồ sơ mà phải giúp người quản lý có dữ liệu để điều hành. Trang báo cáo cập nhật tình hình hằng ngày, chức năng tổng hợp dữ liệu bằng AI giúp ban giám hiệu có thông tin trước khi xây dựng kế hoạch công việc tiếp theo.
Hồ sơ, kế hoạch giáo dục và giáo án điện tử của giáo viên được lưu trữ tập trung. Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn có thể truy cập để kiểm tra và ký duyệt số. Những công việc trước đây phải chờ giáo viên nộp hồ sơ hoặc di chuyển giữa các cơ sở được thực hiện ngay trên hệ thống.
Cách điều hành này được kết hợp với phân quyền tại từng cơ sở. Mỗi phân hiệu có một Phó Hiệu trưởng trực tiếp phụ trách. Thay vì mọi vấn đề đều chuyển về hiệu trưởng, cán bộ quản lý tại cơ sở phải cập nhật tình hình hằng ngày, phân công công việc và xử lý những tình huống phát sinh.
Với các cuộc họp, hội đồng trường vẫn duy trì họp trực tiếp định kỳ mỗi tháng một lần. Những cuộc họp đột xuất hoặc nội dung cần xử lý gấp được chuyển sang trực tuyến. Giáo viên vì vậy không phải di chuyển giữa các cơ sở chỉ để tham dự một cuộc họp ngắn.

Trong công tác chuyên môn, nhà trường tổ chức sinh hoạt theo khối lớp giữa cả 3 cơ sở. Giáo viên cùng khối trao đổi chung thay vì mỗi cơ sở hình thành một nhóm sinh hoạt riêng. Việc kiểm tra, đánh giá học sinh được thực hiện theo yêu cầu chung; giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đánh giá học sinh lớp mình, kết quả được tổng hợp ở cấp trường. Ma trận kiểm tra được thống nhất theo các mức độ quy định, trong khi nội dung đề có thể được tổ chuyên môn điều chỉnh để phù hợp đặc điểm học sinh từng cơ sở.
Sau sáp nhập, Trường THCS Nguyễn Lương Bằng (phường Liên Chiểu) có gần 4.000 học sinh, 88 lớp và 180 giáo viên.
Trong điều hành, quản lý, ông Huỳnh Duy Linh, Hiệu trưởng nhà trường lựa chọn cách giảm sự phụ thuộc vào ban giám hiệu bằng việc phân cấp mạnh cho tổ chuyên môn. Bộ máy được tổ chức lại còn 3 tổ: Khoa học Tự nhiên; Khoa học Xã hội; Giáo dục thể chất - Tiếng Anh - Nghệ thuật. Dưới các tổ là gần 20 nhóm chuyên môn sâu.
Theo ông Huỳnh Duy Linh, tổ trưởng chuyên môn được trao quyền đề xuất nhân sự phân công giảng dạy và giáo viên chủ nhiệm. Ban Giám hiệu giao chỉ tiêu chất lượng, còn tổ chuyên môn và giáo viên chủ động xây dựng phương án thực hiện.
Những cán bộ có kinh nghiệm quản lý, trong đó có những người trước đây vốn là Phó Hiệu trưởng được bố trí làm tổ trưởng chuyên môn. Cách bố trí này giúp công việc điều hành chuyên môn được chia sẻ xuống cấp tổ, thay vì chỉ tập trung vào ban giám hiệu.
Sau khi ổn định công tác nhân sự, tổ chức, điều hòa chất lượng giữa các cơ sở là vấn đề nhà trường phải theo dõi. Ông Linh cho biết, trường thống nhất một thước đo chung: các phân hiệu và cơ sở chính sử dụng cùng đề kiểm tra, tổ chức kiểm tra cùng thời điểm, rọc phách, chấm chung và thông báo kết quả chung.
Điểm trường nào có kết quả chưa đạt yêu cầu phải xây dựng kế hoạch cải tiến. Giáo viên từ cơ sở chính được phân công đến phân hiệu dạy chuyên đề, hỗ trợ phương pháp. Hai tuần một lần, các tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chung giữa các cơ sở. “Không thể để một cơ sở đi chậm, cơ sở còn lại đứng lại chờ”, ông Huỳnh Duy Linh nêu quan điểm điều hành.

Thời gian đầu, các buổi sinh hoạt chuyên môn được tổ chức trực tiếp để giáo viên trao đổi, hướng dẫn cụ thể. Sau đó, nhà trường kết hợp trực tiếp và trực tuyến để giảm thời gian di chuyển.
Cùng với thay đổi cách tổ chức bộ máy, nhà trường đưa AI vào xử lý một số công việc hành chính. Kế hoạch của 10 bộ phận được AI hỗ trợ tổng hợp trước khi ban giám hiệu rà soát, điều chỉnh. Theo ông Linh, phần tinh chỉnh còn khoảng 30 phút thay vì phải đọc và tổng hợp thủ công toàn bộ như trước.
Thời gian giảm ở khâu hành chính được dành cho kiểm tra, thị sát và theo dõi hoạt động dạy học. AI vì thế được sử dụng như một công cụ hỗ trợ công việc quản lý, còn việc đánh giá chất lượng và quyết định chuyên môn vẫn do đội ngũ thực hiện.
Tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Trà Leng (xã Trà Leng), câu chuyện chuyển đổi số diễn ra trong điều kiện khác hẳn. Trường từng có 13 điểm trường sau khi tiếp nhận thêm các cơ sở; hiện đã giảm còn 10 điểm.
Chia sẻ của Hiệu trưởng Bùi Quang Ngọc, AI trong quản lý hiện chủ yếu được sử dụng ở những công việc cơ bản như xử lý số liệu, làm báo cáo hành chính. Việc ứng dụng sâu hơn gặp trở ngại từ hạ tầng viễn thông. Tại một số điểm lẻ như Ông Bình, Ông Tuấn, sóng điện thoại và 4G chỉ xuất hiện vào buổi tối khi trạm phát được vận hành bằng máy nổ. Ban ngày, giáo viên gần như không thể kết nối mạng. “Có thêm sóng Mobifone bên cạnh Viettel nên giáo viên phải trang bị thêm SIM để liên lạc”, ông Ngọc cho biết.
Các thông báo, cập nhật số liệu và trao đổi công việc hành chính vì vậy phải tranh thủ thực hiện vào ban đêm. Với những điểm chưa có sóng, giáo viên soạn giáo án điện tử trước cho cả tuần, gửi lên hệ thống để ban giám hiệu, tổ trưởng tổ chuyên môn có thể kiểm tra; lưu trong máy tính cá nhân rồi mang lên điểm lẻ để trình chiếu khi dạy học.
Trong điều kiện kết nối hạn chế, nhà trường tập trung xử lý những vấn đề trực tiếp liên quan đến tổ chức dạy học. Ba điểm trường khó khăn, ít học sinh là Ông Văn, Ông Thái và Ông Tuấn được dồn, đưa học sinh về phân hiệu Trà Leng cũ. Số điểm trường giảm từ 13 xuống 10; số lớp ghép từ 10 còn 5.

Sau khi dồn điểm trường, nhà trường tổ chức bán trú cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 5. Do đường sá cách trở, các em ở lại trường trong thời gian dài. Gia đình đón trẻ về thăm khoảng 1–2 ngày nghỉ cuối tháng rồi đưa trở lại trường. Những ngày mưa bão lớn, Ban Giám hiệu và giáo viên phân công nhau túc trực tại trường, theo dõi nguy cơ đá lăn và bảo đảm an toàn cho học sinh.
Tại Trà Leng, những công việc liên quan đến quản lý vẫn được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau để thích ứng với điều kiện còn hạn chế về hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó, việc sắp xếp lại điểm trường, giảm lớp ghép và tổ chức bán trú được triển khai dựa trên điều kiện địa bàn và nhu cầu của học sinh.
Ba mô hình quản lý cho thấy cùng một yêu cầu về đổi mới nhưng cách triển khai không giống nhau. Ở trường có nhiều cơ sở và quy mô lớn, dữ liệu số, AI và phân quyền giúp công việc được xử lý nhanh hơn, giảm khâu trung gian. Ở vùng cao, khi hạ tầng chưa đáp ứng, nhà trường phải lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện kết nối và tổ chức dạy học.