Khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho thấy học phí khối ngành sức khỏe cao nhất, trong khi mức trần vẫn chưa theo kịp chi phí đào tạo thực tế.
Kết quả khảo sát 58 cơ sở giáo dục đại học cho thấy mức thu học phí có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm ngành đào tạo và giữa các cơ sở có mức độ tự chủ tài chính khác nhau.
Thông tin này được nêu tại báo cáo của Bộ GD&ĐT về tình hình thực hiện Nghị định 238 năm 2025 Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Báo cáo được xây dựng làm cơ sở để Bộ GD&ĐT soạn thảo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 238.

Theo Bộ GD&ĐT, khối ngành sức khỏe có mặt bằng học phí cao nhất trong tất cả các nhóm ngành đào tạo, năm học 2025-2026.
Nhiều chương trình thuộc các ngành Y khoa, Dược học, Răng Hàm Mặt, Điều dưỡng và Kỹ thuật y học đang áp dụng mức học phí cao hơn đáng kể so với các nhóm ngành khác.
Tại các cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên, mức học phí tối đa của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học và Y tế công cộng lên tới 82,2 triệu đồng/người học/năm, tương đương 174,2% mức trần.
Trong khi đó, nhóm ngành Y học và Dược học có mức học phí tối đa 79,5 triệu đồng/người học/năm, tương đương 127,8% mức trần.
Ở nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, mức học phí bình quân của các ngành sức khỏe cũng cao hơn đáng kể so với các nhóm ngành còn lại. Cụ thể, tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học và Y tế công cộng đạt 152,9%, trong khi mức tối đa lên tới 273,3%.
Đối với nhóm ngành Y học và Dược học, tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần là 139,9%, còn mức tối đa lên tới 196,5%.
Trong khi đó, phần lớn các nhóm ngành đào tạo khác có mức học phí dao động quanh mức trần hoặc thấp hơn mức trần theo quy định.
Theo Bộ GD&ĐT, thực tế này phản ánh đặc thù của khối ngành sức khỏe với yêu cầu cao về thực hành, thực tập lâm sàng, hệ thống cơ sở thực hành tại bệnh viện, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu. Đây cũng là nhóm ngành có chi phí đào tạo thực tế cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học hiện nay.
Báo cáo cũng nêu rõ khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế được ghi nhận rõ nhất ở khối ngành sức khỏe. Kết quả khảo sát cho thấy chi phí đào tạo các ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng, Y học và Dược học đều cao hơn đáng kể so với mức trần học phí hiện hành, với mức chênh lệch khoảng 62 đến 85%.
Theo quy định tại Nghị định 238, mức trần học phí áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên được xác định theo từng nhóm ngành và từng năm học.
Trong năm học 2025-2026, mức trần dao động từ 1,52 triệu đồng đến 3,11 triệu đồng/người học/tháng, tùy nhóm ngành.
Đáng chú ý, nhóm ngành sức khỏe có mức trần cao hơn. Nhóm Điều dưỡng, Hộ sinh, Dinh dưỡng, Răng - Hàm - Mặt, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng, Quản lý y tế và các ngành khác thuộc nhóm này có mức trần 2,36 triệu đồng/người học/tháng. Trong khi đó, nhóm Dược học, Y học có mức trần cao nhất, 3,11 triệu đồng/người học/tháng.
Tuy nhiên, đây là mức trần áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên. Với các trường có mức độ tự chủ cao hơn, mức học phí được phép xác định cao hơn mức trần này.
Cụ thể, cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên được xác định mức học phí tối đa bằng 2 lần mức trần tương ứng với từng nhóm ngành và từng năm học.
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, mức học phí tối đa được xác định bằng 2,5 lần mức trần tương ứng.
Năm học 2026-2027, mức trần đã tăng, dao động từ 1,71 triệu đồng đến 3,5 triệu đồng/người học/tháng, tùy nhóm ngành.