Trước tình cảnh đen tối nước nhà chịu ách áp bức đô hộ của thực dân Pháp đã có những bậc tiền bối tìm đường cứu nước như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng dấy binh khởi nghĩa; Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu xuất dương sang Pháp, sang Nhật tìm kiếm đồng minh và phương thức giành độc lập. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành kính phục các cụ, nhưng Anh thấy có cái gì đó về con đường đánh đuổi thực dân Pháp của các Cụ chưa phù hợp.
Người thanh niên Nguyễn Tất Thành kính phục các cụ, nhưng Anh thấy có cái gì đó về con đường đánh đuổi thực dân Pháp của các Cụ chưa phù hợp. Với tư duy mới lạ và ý chí mãnh liệt Anh đã quyết định xuất dương và bôn ba khắp thế giới để tìm kiếm con đường khác.
Khi đi khắp đó đây, tiếp xúc với nhiều trào lưu cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy chìa khóa để giải phóng cho dân tộc mình, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Khi bắt gặp được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin, Người đã reo lên vì thấy ở đây thực sự là con đường để giải phóng cho đất nước mình.
Từ đó, những năm 20 của thế kỷ XX lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Nguyễn Ái Quốc đã được hình thành và vượt tầm thời đại. Đó là sự gặp gỡ của lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; là mối quan hệ máu thịt giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là cách mạng vô sản”.
Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh và điều kiện của cách mạng Việt Nam, tìm mọi cách tuyên truyền lý luận cách mạng vào trong nước cùng với việc thành lập Đảng vô sản để lãnh đạo cách mạng.
Theo Người: “Nhiệm vụ chiến lược của Đảng vô sản là giải phóng cho dân tộc, trong đó có giải phóng mình khỏi cảnh áp bức bóc lột của đế quốc xâm lược và tay sai của chúng”. Đường lối cách mạng của Đảng là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản”.
Người cũng chỉ ra: “Cách mạng Việt Nam đi theo ngọn cờ Cách mạng Tháng Mười Nga nhưng không giống Cách mạng Tháng Mười”. Như vậy mới thấy tầm vóc của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, nghiên cứu vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, không rập khuôn. Đó là chủ nghĩa yêu nước chân chính hoà quyện với tinh thần dân tộc, tình đoàn kết giai cấp vô sản đứng lên chống áp bức nô lệ.
Điều kỳ lạ là, khi Quốc tế cộng sản chủ trương làm cách mạng vô sản toàn thế giới; tư tưởng thịnh hành cách mạng là đấu tranh giai cấp, là chuyên chính vô sản và cách mạng quốc tế, thì Nguyễn Ái Quốc lại nêu cao ngọn cờ yêu nước giải phóng dân tộc.
Điều quan trọng là đội ngũ cốt cán của Đảng cộng sản Đông Dương do Nguyễn Ái Quốc đào tạo và dẫn dắt đã giác ngộ đường lối cách mạng của Người, vận dụng vào “Luận cương chính trị” của Đảng (tháng 10/1930) và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ I (tháng 3/1935).
Vào những năm 30 khi thế giới xuất hiện chủ nghĩa phát xít cùng với phong trào đòi dân chủ thì tư tưởng độc lập dân tộc của Nguyễn Ái Quốc lại được thực tiễn chứng minh. Đảng Cộng sản Đông Dương nêu cao ngọn cờ dân chủ tập hợp đông đảo mọi tầng lớp Nhân dân bất kể gái trai, già trẻ, đảng phái, sắc tộc, tôn giáo vào phong trào yêu nước.
Tháng 3/1938, Hội nghị Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp, quyết định cuộc vận động dân chủ chống chủ nghĩa phát xít đưa cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới.
Trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới vào những năm 30 của thế kỷ XX, nhất là sự xuất hiện chủ nghĩa phát xít, với tầm nhìn chiến lược Nguyễn Ái Quốc dự báo nguy cơ chiến tranh thế giới xảy ra và sẽ có tác động đến Việt Nam.
Với dự báo tài tình Người nhận thấy thời cơ đã đến, báo cáo ý kiến của mình với Quốc tế cộng sản và xin được về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng. Vậy là sau 30 năm bôn ba khắp thế giới, tháng 2/1941 Nguyễn Ái Quốc đã về Cao Bằng lấy hang Pắc Pó làm trụ sở để trực tiếp chỉ đạo cách mạng.
Người nắm bắt những diễn biến của phong trào cách mạng đang diễn ra mau lẹ, quyết định triệu tập và chủ trì hội nghị Trung ương 8 (khóa I) của Đảng họp từ ngày 10 đến 19/5/1941.
Tại Hội nghị, Người nhận định mặc dầu trước mắt phát xít Đức, Ý, Nhật đang mở rộng chiến tranh đánh vào Liên Xô và các nước Đồng minh, nhưng nhất định chúng sẽ thất bại và đây là thời cơ cho cách mạng nước ta.
Người nhấn mạnh lúc này phải chuẩn bị lực lượng để nắm bắt thời cơ, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên trước, nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Đường lối đó phản ánh nhãn quan chính trị nhạy bén và kịp thời, tầm nhìn chiến lược sắc sảo, tư duy lý luận gắn với thực tiễn rất sáng suốt và đúng đắn.
Để kịp thời tập hợp mọi tầng lớp Nhân dân đứng lên chống lại bè lũ cướp nước và bọn tay sai, Hồ Chí Minh đã chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh. Mặt trận Việt Minh ra đời là một sáng tạo lịch sử đáp ứng với yêu cầu của cách mạng. Dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh, mọi tầng lớp Nhân dân được tập hợp đoàn kết lại đứng lên làm cách mạng đánh đổ thực dân xâm lược giành độc lập dân tộc.
Điều đặc biệt là khi Đảng đang hoạt động bí mật thì chính Mặt trận là nơi tập hợp mọi tầng lớp Nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng với quần chúng, là tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để làm nòng cốt và cơ sở cho đấu tranh chính trị và đón đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã quyết định xây dựng lực lượng vũ trang. Đầu tiên là thành lập đội du kích Cao Bằng, tiếp đó để đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Người quyết định thành lập “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” (ngày 22/12/1944). Mở đầu là trận đánh vang dội diệt gọn 2 đồn địch là Phay Khắt và Nà Ngần, từ đó uy tín của Đội lan tỏa, nhiều địa phương đã kịp thời thành lập các đội vũ trang bên cạnh tổ chức Mặt trận.
Để thống nhất lực lượng vũ trang trong cả nước, Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định sáp nhập các lực lượng vũ trang thành “Việt Nam Giải phóng quân” và đặt nhiệm vụ quân sự lên hàng đầu.
Vào thời điểm lịch sử ở giai đoạn tiền khởi nghĩa, Hồ Chí Minh đã có sáng tạo tìm mọi cách tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
Người đã trực tiếp gặp Chu Ân Lai đại diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc để bàn việc phối hợp hoạt động cách mạng giữa hai Đảng; cử người đi Diên An liên lạc với đại diện Quốc tế cộng sản.
Đặc biệt tháng 2/1942, Người đích thân đi Trung Quốc gặp đại diện Chính phủ Tưởng Giới Thạch, cử người gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh. Thực hiện nội dung hợp tác vô cùng nhạy cảm với Mỹ, ta đã chủ trương xây dựng sân bay dã chiến ở Cao Bằng để tiếp nhận súng đạn, thuốc men, khí tài và một số quân tình nguyện làm chuyên gia huấn luyện quân sự cho lực lượng vũ trang Việt Nam. Những hoạt động quốc tế đó không những góp phần vào việc chuẩn bị lực lượng cho thắng lợi to lớn của Cách mạng Tháng Tám mà còn là bài học cho sự tiếp nối của quá trình cách mạng sau này.
Khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, ở Đông Dương quân đội Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, với tầm cao trí tuệ và bề dày kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh khẳng định thời cơ đã đến, dù hi sinh tới đâu lúc này cũng phải dồn hết mọi lực lượng giành cho được độc lập dân tộc.
Người nói: “Cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình đang chuyển biến nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội”.
Người đã kịp thời triệu tập Đại hội Đại biểu quốc dân ở Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang và phát động Tổng khởi nghĩa toàn quốc.
Người kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến, đồng bào toàn quốc hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta…”.
Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ Việt Minh, triệu người như một đồng lòng đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa thành công.
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấn định ngày 2/9/1945 là ngày Chính phủ cách mạng lâm thời ra mắt quốc dân, Hồ Chí Minh đã soạn thảo và thay mặt Chính phủ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Như vậy, từ việc tìm ra con đường cứu nước và trải qua bao nhiêu gian truân, Hồ Chí Minh là người "kiến trúc sư tài ba" của cách mạng Việt Nam. Người đã chỉ đạo sát sao và kịp thời đề ra những quyết sách phù hợp, đúng đắn để mang đến thành công mỹ mãn của Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi trọn vẹn cho sự ra đời một nước Việt Nam mới. Đây là mốc son chói lọi đối với lịch sử cách mạng Việt Nam mở ra thời đại Hồ Chí Minh, đồng thời góp phần to lớn vào phong trào giải phóng dân tộc của thế giới.