Đào tạo nghề tại Tuyên Quang đang từng bước chuyển từ tư duy “dạy những gì cơ sở có” sang đào tạo gắn với nhu cầu thực tế của người học.

Với trên 1,1 triệu người trong độ tuổi lao động, Tuyên Quang có nguồn nhân lực dồi dào.
Những năm gần đây, công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang được duy trì ổn định, từng bước đáp ứng nhu cầu học nghề, chuyển đổi việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là tại khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Các lớp đào tạo nghề ngắn hạn được tổ chức theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện của lao động nông thôn. Người học không phải rời bỏ công việc, sản xuất trong thời gian dài mà có thể tiếp cận kiến thức, kỹ thuật ngay tại địa phương, sau đó áp dụng trực tiếp vào sản xuất.

Tại xã Mậu Duệ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đào tạo nghề được triển khai gắn với lợi thế sản xuất của địa phương. Từ sau sáp nhập đến nay, xã đã phối hợp tổ chức 6 lớp đào tạo cho 210 lao động về kỹ thuật trồng, chế biến chè Shan tuyết và chăn nuôi gia súc.
Không chỉ cung cấp kiến thức nghề, các lớp học còn hướng người dân đến phương thức sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và từng bước thay đổi cách thức tổ chức sản xuất vốn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.
Sau khi tham gia lớp đào tạo nghề chăn nuôi ngựa năm 2025, gia đình anh Nùng A Hòa, thôn Bản Khoang, xã Mậu Duệ đã đầu tư nuôi 10 con ngựa vỗ béo.
Nếu trước đây việc chăn nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thì sau khóa học, anh Hòa đã biết cách lựa chọn con giống, thiết kế chuồng trại, phối trộn thức ăn và chủ động phòng, trị bệnh cho đàn vật nuôi.
“Sau học nghề ngắn hạn, tôi nắm được kỹ thuật chọn giống, làm chuồng trại, phối trộn thức ăn và phòng, trị bệnh thay vì chỉ chăn nuôi theo kinh nghiệm như trước. Nhờ áp dụng đúng kỹ thuật, đàn ngựa phát triển tốt, sau 2 lứa xuất bán, gia đình thu lãi 30 triệu đồng”, anh Hòa chia sẻ.
Câu chuyện của gia đình anh Hòa cho thấy hiệu quả của đào tạo nghề không chỉ nằm ở một chứng chỉ hay một khóa học hoàn thành, mà quan trọng hơn là kiến thức được chuyển hóa thành năng suất lao động, thu nhập và sinh kế cụ thể.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với đặc thù khu vực nông thôn Tuyên Quang, nơi phần lớn lao động vẫn gắn bó với nông nghiệp, nhưng yêu cầu chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa ngày càng rõ nét.
Theo thống kê, Tuyên Quang hiện có 8 cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, ngoài công lập; cùng với đó là 15 cơ sở giáo dục tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
Riêng năm 2025, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh trên 23 nghìn người tham gia đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng. Theo đánh giá của ngành chuyên môn, có trên 14 nghìn người có việc làm sau đào tạo.
Những con số này cho thấy đào tạo nghề đang từng bước trở thành một mắt xích quan trọng trong giải quyết bài toán việc làm. Đặc biệt, việc nhiều học viên được doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp sau đào tạo cho thấy khoảng cách giữa “học nghề” và “việc làm” đang được rút ngắn.
Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng nghề, kiến thức thực hành và khả năng thích ứng, một trong những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục nghề nghiệp là phải đào tạo đúng và trúng nhu cầu.

Bởi vậy, bên cạnh nâng cao chất lượng đào tạo, Tuyên Quang đang chú trọng tăng cường liên kết giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, qua đó mở rộng cơ hội việc làm cho người học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Hiện có trên 80 doanh nghiệp, công ty, nhà máy trong và ngoài tỉnh phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tiếp nhận học viên tốt nghiệp vào làm việc.
Sự tham gia của doanh nghiệp không chỉ dừng ở khâu tuyển dụng mà ngày càng được mở rộng sang khảo sát nhu cầu nhân lực, phối hợp xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và tiếp nhận người học sau tốt nghiệp. Đây là hướng đi giúp cơ sở đào tạo nắm bắt tốt hơn những thay đổi của thị trường lao động, đồng thời giúp doanh nghiệp có nguồn nhân lực phù hợp.
Tại Trường Cao đẳng Tuyên Quang, yêu cầu gắn đào tạo với việc làm được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Ông Quách Văn Hóa, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tuyên Quang cho biết, nhà trường đã chủ động đổi mới hình thức tuyển sinh, đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, trong đó chú trọng triển khai các chương trình phù hợp với lao động khu vực nông thôn.
“Nổi bật như các nghề sát nhu cầu của thị trường như: Công nghệ ô tô, điện dân dụng, sửa chữa xe máy, hàn, chăn nuôi... Bên cạnh đó, trường tích cực liên kết với các doanh nghiệp để khảo sát nhu cầu lao động, triển khai đào tạo theo các đơn đặt hàng. Nhờ đó, tỷ lệ học sinh, sinh viên, học viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 85%”, ông Quách Văn Hóa thông tin.
Việc đào tạo những nghề gần với nhu cầu thực tế cũng mở ra cơ hội để lao động nông thôn lựa chọn con đường lập nghiệp đa dạng hơn. Người học có thể làm việc tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hoặc sử dụng chính kiến thức nghề được trang bị để phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình.
Đối với những địa bàn còn khó khăn, đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt. Khi người dân có nghề, có kỹ năng và có khả năng tạo ra thu nhập ổn định, đào tạo nghề không chỉ góp phần giải quyết việc làm mà còn tạo nền tảng để giảm nghèo bền vững.
Cùng với thị trường lao động trong nước, tỉnh cũng tăng cường mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nông thôn thông qua các thỏa thuận hợp tác với thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc. Đây là hướng đi giúp người lao động có thêm lựa chọn việc làm, nâng cao thu nhập và tích lũy kinh nghiệm.
Song song với đào tạo và kết nối việc làm, các chính sách tín dụng ưu đãi cũng được triển khai, tạo điều kiện để lao động nông thôn có vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Khi “ba yếu tố” gồm có nghề – có vốn – có thị trường được kết nối, khả năng tạo việc làm bền vững ngay tại địa phương sẽ được nâng lên.
Với khu vực nông thôn, hiệu quả cuối cùng của đào tạo nghề không chỉ được đo bằng số người tham gia hay số chứng chỉ được cấp, mà quan trọng hơn là số người có việc làm, có thu nhập và có khả năng tự tạo việc làm.