Hải Phòng đã tạo nền tảng triển khai chương trình mới, song cần tháo gỡ điểm nghẽn vốn, quy hoạch, nhân lực và cơ chế.

Chủ động từ sớm
Nghị quyết số 257/2025/QH15 mở ra giai đoạn mới của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Tại Hải Phòng, những tháng đầu triển khai được xác định là giai đoạn chuẩn bị nền tảng, từ hoàn thiện cơ chế, chính sách đến rà soát hiện trạng, nhu cầu đầu tư và nguồn lực.
Sau hợp nhất, Hải Phòng có 114 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 67 xã, 45 phường và 2 đặc khu. Việc tổ chức thực hiện chương trình trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi thành phố phải đồng thời kiện toàn bộ máy, phân định trách nhiệm và xây dựng cách thức điều hành phù hợp với địa bàn mới.
Một trong những kết quả đáng ghi nhận là thành phố đã kịp thời thành lập Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia, do Chủ tịch UBND thành phố làm Trưởng ban; đồng thời thành lập Văn phòng Điều phối thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.
Việc kiện toàn tổ chức giúp rút ngắn quy trình chỉ đạo, tăng tính chủ động của cấp xã và nâng cao vai trò điều phối của các cơ quan chuyên môn thành phố. Trách nhiệm của người đứng đầu cũng từng bước được gắn với tiến độ và kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu.
Về cơ chế, chính sách, HĐND và UBND thành phố đã ban hành nhiều văn bản quan trọng. Nổi bật là Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ một số thành viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, thoát cận nghèo giai đoạn 2026-2030;
Nghị quyết số 19/2026/NQ-HĐND quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách thành phố và cơ chế, chính sách thực hiện chương trình;
Quyết định số 58/2026/QĐ-UBND ban hành Bộ tiêu chí về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.
Thành phố cũng đã phê duyệt danh sách xã nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3 thực hiện xây dựng xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, đồng thời triển khai rà soát hiện trạng theo Bộ tiêu chí quốc gia.
Qua rà soát bước đầu, các địa phương đã xác định được mức độ đáp ứng của từng tiêu chí, những nội dung còn thiếu hụt, qua đó làm cơ sở xác định mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm và nhu cầu kinh phí trong giai đoạn tới.
Về nguồn lực, năm 2026 thành phố bố trí 582.778 triệu đồng vốn đầu tư công cho các dự án xây dựng nông thôn mới chuyển tiếp từ năm 2025, toàn bộ từ ngân sách địa phương. Đến 15/7/2026, đã giải ngân 191.530 triệu đồng, đạt 32,86% kế hoạch; ước giải ngân đến hết tháng báo cáo đạt 218.925 triệu đồng, tương đương 37,57%. Đối với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, thành phố dự kiến bố trí 7.987,97 tỷ đồng cho chương trình.
Đồng thời, Hải Phòng đang rà soát khả năng lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình, đề án, dự án, ngân sách cấp xã, tín dụng chính sách và nguồn lực doanh nghiệp, người dân. Những kết quả trên cho thấy thành phố đã chủ động chuẩn bị tương đối sớm cho một chương trình có quy mô lớn và phạm vi tác động rộng.

Gỡ nút thắt để chuyển từ “chuẩn bị” sang “tăng tốc”
Một trong những vướng mắc được Hải Phòng chỉ ra là tiến độ ban hành một số văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương còn chậm. Điều này kéo theo việc xây dựng bộ tiêu chí và đánh giá hiện trạng ở địa phương bị ảnh hưởng. Đặc biệt, Trung ương chưa có hướng dẫn cụ thể về xây dựng xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030, khiến địa phương còn lúng túng trong triển khai.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều địa phương đồng thời thực hiện sáp nhập thôn, trường học, trạm y tế và xây dựng quy hoạch chung xã. Vì vậy, việc xác định nhu cầu đầu tư, nhất là đối với nhóm tiêu chí hạ tầng, chưa thể thực hiện một cách hoàn toàn ổn định.
Mô hình chính quyền hai cấp cũng làm thay đổi đầu mối tham mưu. Một số cán bộ mới được phân công nhiệm vụ liên quan đến xây dựng nông thôn mới chưa có nhiều kinh nghiệm, trong khi khối lượng công việc tăng lên. Đây là yếu tố có thể tác động đến tiến độ và chất lượng triển khai nếu không được hỗ trợ, tập huấn kịp thời.
Bài toán lớn khác là nguồn lực. Nhu cầu vốn để hoàn thành các tiêu chí tại cơ sở rất lớn, trong khi khả năng cân đối ngân sách thành phố còn hạn chế. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước, khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu đầu tư.
Từ thực tiễn còn nhiều khó khăn, TP Hải Phòng xác định, để đạt hiệu quả chương trình trước hết là phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, quyết liệt của cấp ủy, chính quyền; phân công rõ trách nhiệm từng cơ quan, đơn vị và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Công tác chuẩn bị phải đi trước một bước, từ cơ chế, chính sách, kế hoạch, danh mục dự án, nhu cầu vốn và khả năng giải ngân cần được chuẩn bị đồng bộ trước khi giao kế hoạch vốn.
Đồng thời, thành phố coi trọng lồng ghép nguồn lực. Các chương trình, dự án, đề án và chính sách có cùng mục tiêu cần được rà soát để tránh đầu tư dàn trải, chồng chéo, đồng thời tăng hiệu quả sử dụng ngân sách.
Các địa phương lựa chọn dự án phải bám sát mục tiêu, tiêu chí của chương trình, phù hợp quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và khả năng cân đối nguồn lực. Không chạy theo số lượng công trình mà phải chú trọng hiệu quả, khả năng duy trì và tác động lâu dài.
Hải Phòng xác định trọng tâm thời gian tới là chuyển từ phát triển số lượng sang nâng cao chất lượng nông thôn mới, duy trì bền vững các tiêu chí sau đạt chuẩn và từng bước xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Đối với giảm nghèo, thành phố định hướng tiếp cận đa chiều, tập trung phát triển sinh kế, nâng cao khả năng tự chủ của người nghèo, đồng thời xây dựng cơ chế phòng ngừa tái nghèo.
Kinh tế nông thôn cũng cần được chuyển mạnh theo hướng gia tăng giá trị và bền vững, gắn sản phẩm OCOP với du lịch nông nghiệp, sinh thái, cộng đồng; tăng cường chuyển đổi số để mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Một giải pháp xuyên suốt là phát huy vai trò chủ thể của người dân và doanh nghiệp. Người dân cần được tham gia vào quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát chương trình, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng.
Doanh nghiệp cần được tạo môi trường thuận lợi để đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo việc làm và sinh kế bền vững.
Cùng với đó, thành phố tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát tiến độ, kết quả; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá. Việc trao quyền mạnh hơn cho cấp xã phải đi đôi với cơ chế giám sát minh bạch.
Từ thực tiễn triển khai, Hải Phòng kiến nghị Trung ương sớm hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, phần mềm quản lý và giám sát chương trình thống nhất trên toàn quốc. Thành phố cũng đề nghị có hướng dẫn cụ thể đối với việc thực hiện chương trình, nhất là xây dựng nông thôn mới tại những xã dự kiến chuyển đổi thành phường.
Giai đoạn 2026-2030 vì thế không chỉ là chặng đường tiếp nối của xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo. Với Hải Phòng sau hợp nhất, đây còn là quá trình tái tổ chức phương thức quản trị, phân bổ nguồn lực và phát triển khu vực nông thôn theo mô hình mới. Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về cơ chế, quy hoạch, nhân lực và vốn; đồng thời phát huy được sức mạnh của dữ liệu, chính quyền cơ sở, người dân và doanh nghiệp, chương trình sẽ có điều kiện chuyển nhanh từ giai đoạn chuẩn bị sang giai đoạn tăng tốc, hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng sống và tạo nền tảng phát triển bền vững cho khu vực nông thôn Hải Phòng.