Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT về quản lý, sử dụng học bạ số đảm bảo quyền tham gia của người học, tăng cường trách nhiệm của cơ sở giáo dục.

Tại Nghệ An, các nhà trường đang từng bước hoàn thiện quy trình quản lý, khai thác học bạ số theo hướng đồng bộ, chính xác và bảo đảm quyền lợi học sinh.
Bước vào năm học 2026–2027, chị Nguyễn Thu Hằng, phụ huynh học sinh lớp 9 ở phường Trường Vinh (Nghệ An), nhận được thông báo của giáo viên chủ nhiệm về việc hướng dẫn phụ huynh truy cập dữ liệu học tập của con trên hệ thống VNEDU.
Theo hướng dẫn, phụ huynh sử dụng số điện thoại đã đăng ký với nhà trường để đăng nhập tài khoản, nhập mật khẩu và mã OTP để truy cập thông tin học tập.
Chị Hằng cho biết, việc tải và sử dụng ứng dụng không mất phí. Thông qua hệ thống, phụ huynh có thể theo dõi kết quả học tập, rèn luyện của con, đồng thời tra cứu kết quả các năm học trước. “Tôi thấy rất vui khi có thể theo dõi quá trình học tập của con một cách thuận tiện. Việc lưu trữ dữ liệu trên hệ thống cũng giúp phụ huynh dễ dàng tra cứu thông tin khi cần”, chị Hằng chia sẻ.

Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT chính thức có hiệu lực từ 8/10/2026, quy định việc quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên. Một trong những nội dung đáng chú ý là yêu cầu tăng cường kiểm tra, đối chiếu dữ liệu học tập, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong việc bảo đảm tính chính xác trước khi phát hành học bạ số.
Ông Nguyễn Vương Linh, Hiệu trưởng Trường THCS Đặng Chánh Kỷ (xã Vạn An, Nghệ An), cho biết trước đây, việc triển khai học bạ điện tử tại nhiều trường chủ yếu tập trung vào các thủ tục hành chính. Giáo viên nhập dữ liệu vào hệ thống sổ điểm, học bạ điện tử; lãnh đạo nhà trường kiểm tra, ký phát hành để hoàn thiện hồ sơ học sinh theo từng học kỳ, năm học.
Tuy nhiên, khi thực hiện Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT việc triển khai học bạ số không chỉ dừng lại ở số hóa thông tin thay cho hồ sơ giấy mà còn đòi hỏi các nhà trường xây dựng quy trình quản lý dữ liệu chặt chẽ, phân định trách nhiệm của từng cá nhân và tạo điều kiện để người học tham gia kiểm tra thông tin của mình. Các khâu nhập điểm, kiểm tra, đối chiếu, chỉnh sửa và xác nhận dữ liệu cần được thực hiện theo quy trình thống nhất.
Theo ông Linh, việc xác định rõ trách nhiệm ở từng khâu giúp nhà trường kiểm soát chất lượng dữ liệu, kịp thời phát hiện và khắc phục sai sót. Khi có vấn đề phát sinh, đơn vị có thể xác định khâu cần rà soát, người chịu trách nhiệm và thực hiện hiệu đính theo quy trình.
Người học được tham gia kiểm tra, khai thác dữ liệu học tập của mình là điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc chuyển trách nhiệm bảo đảm tính chính xác của học bạ sang học sinh. Nhà trường vẫn phải kiểm tra đầy đủ, kịp thời và chính xác trước khi phát hành.
Khi quy trình được vận hành đồng bộ, học bạ số không chỉ phục vụ lưu trữ hồ sơ mà còn giúp phụ huynh, học sinh chủ động theo dõi quá trình học tập, loại bỏ các hồ sơ phụ trùng lặp về chức năng như sổ liên lạc điện tử… Dữ liệu được cập nhật có hệ thống cũng tạo thuận lợi khi học sinh chuyển cấp, chuyển trường, hạn chế việc kê khai và bổ sung nhiều loại giấy tờ.
Đồng bộ dữ liệu, bảo đảm quyền lợi người học
Tại Nghệ An, chuyển đổi số giáo dục đã được triển khai từ sớm. Từ năm 2013, ngành Giáo dục tỉnh từng bước đưa vào sử dụng các nền tảng như hệ thống quản lý trường học VNEDU, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử, tuyển sinh trực tuyến, học trực tuyến và chữ ký số.
Đến nay, việc sử dụng sổ điểm điện tử, học bạ điện tử đã được triển khai tại 100% trường học trên địa bàn tỉnh. Quá trình số hóa giúp dữ liệu giáo dục từng bước được cập nhật, khai thác phục vụ công tác quản lý, giảng dạy và theo dõi kết quả học tập của học sinh.
Tại Trường THPT Kỳ Sơn, xã Mường Xén, việc sử dụng học bạ số cũng được triển khai trong nhiều năm học. Tại Trường THPT Kỳ Sơn (xã Mường Xén, Nghệ An), việc triển khai học bạ số đã được thực hiện qua nhiều năm học. Theo ông Trần Văn Vân, Phó Hiệu trưởng nhà trường, dù là trường vùng cao, biên giới, đội ngũ giáo viên cơ bản có khả năng tiếp cận công nghệ và thực hiện số hóa dữ liệu.
Trường có hơn 2.000 học sinh, phần lớn là con em đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới. Nhiều em ở nội trú trong trường hoặc thuê trọ gần trường để thuận tiện học tập. Đây cũng là điều kiện để nhà trường hướng dẫn học sinh tiếp cận, khai thác dữ liệu học tập.

Ông Vân cho rằng việc người học được kiểm tra dữ liệu học bạ số giúp các em chủ động theo dõi điểm số, kết quả học tập và rèn luyện trong suốt quá trình học. Khi phát hiện thông tin chưa chính xác, học sinh có thể phản ánh với giáo viên hoặc cán bộ phụ trách để được kiểm tra, điều chỉnh kịp thời.
Việc tham gia kiểm tra dữ liệu cũng giúp người học hiểu rõ hơn về kết quả học tập của bản thân. Đối với nhà trường, đây là thêm một kênh để đối chiếu thông tin, phát hiện sai sót và nâng cao chất lượng quản lý hồ sơ.
Tuy nhiên, khả năng tự khai thác học bạ số cần được triển khai phù hợp với từng cấp học. Tại Trường Tiểu học Hợp Nhân (xã Yên Thành), bà Trần Thị Đa, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết đơn vị có khoảng 1.500 học sinh tại hai phân hiệu. Với học sinh tiểu học, các em còn nhỏ, chưa thể tự đăng nhập và theo dõi dữ liệu một cách đầy đủ nên cần sự hướng dẫn của giáo viên và phối hợp từ phụ huynh. Vì vậy, nhà trường cần hướng dẫn cụ thể, đồng thời phối hợp với phụ huynh, người giám hộ để hỗ trợ các em thực hiện quyền kiểm tra dữ liệu.

Cùng với yêu cầu về quy trình nghiệp vụ, kinh phí vận hành các nền tảng số cũng là vấn đề được các nhà trường quan tâm. Bà Trần Thị Đa cho hay Trường Tiểu học Hợp Nhân chi khoảng 80 triệu đồng cho hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu giáo dục, gồm học bạ điện tử, sổ điểm điện tử và các ứng dụng quản lý giáo viên, học sinh.
Ông Nguyễn Vương Linh cho biết, với quy mô khoảng 2.000 học sinh, Trường THCS Đặng Chánh Kỷ từng dành khoảng 200 triệu đồng mỗi năm cho các ứng dụng, phần mềm phục vụ quản lý và dạy học. Đây là khoản kinh phí đáng kể đối với các trường công lập, trong khi nguồn chi thường xuyên còn phải bảo đảm nhiều hoạt động khác.
Từ thực tế này, các nhà trường đề xuất cần có phương án bảo đảm kinh phí phù hợp, giúp duy trì các ứng dụng phục vụ quản lý, đồng thời đáp ứng yêu cầu kết nối, đồng bộ dữ liệu.
Ông Nguyễn Văn Khoa – Giám đốc Sở GD&ĐT Nghệ An thông tin, Sở đã ban hành văn bản hướng dẫn kinh phí triển khai công tác chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh từ năm 2026. Theo hướng dẫn, các trường sử dụng nguồn kinh phí cấp bù tiền miễn học phí theo Nghị định số 238/2025/NĐ-CP được UBND tỉnh giao bổ sung hằng năm để thực hiện chuyển đổi số.
Các cơ sở giáo dục căn cứ điều kiện thực tế để lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ, bảo đảm kết nối, đồng bộ dữ liệu với hệ thống ngành Giáo dục. Các ứng dụng được triển khai gồm quản lý dữ liệu học sinh, giáo viên; hồ sơ số; sổ điểm điện tử; học bạ điện tử, học bạ số; chữ ký số; thời khóa biểu và các tiện ích phục vụ dạy học, kiểm tra trực tuyến...
Đáng chú ý, Sở GD&ĐT Nghệ An yêu cầu các đơn vị không thu phí dịch vụ chuyển đổi số từ phụ huynh, học sinh. Việc lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ phải tuân thủ quy định về đấu thầu, sử dụng kinh phí đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.