Trong xu thế tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục hiện nay, học sinh dân tộc thiểu số có cơ hội mở ra cánh cửa mới, nhưng cũng đối diện nhiều thử thách.

Những năm gần đây, cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh cấp trung học tại các trường học ở tỉnh/thành, đang tạo ra sân chơi học thuật mới mẻ, lý thú. Quá trình đó giúp học sinh hình thành những năng lực cần thiết như tư duy khoa học, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, đặc biệt là tinh thần dấn thân vào tri thức mới, được khơi gợi niềm đam mê học tập.
Thực hiện đề tài về vấn đề lan tỏa thương hiệu chè Bình Thành - di sản xanh của vùng ATK Thái Nguyên, em Lương Bảo Châm (dân tộc Tày, lớp 12A4, Trường THPT Định Hóa, Thái Nguyên) chia sẻ: “Chúng em rất hào hứng khi được góp một phần vào tìm hiểu, bảo tồn, phát huy, lan tỏa những giá trị đặc sắc của chính quê hương mình. Hy vọng việc xây dựng thành Ebook song ngữ sẽ đem lại những kết quả tích cực cho quá trình giới thiệu giá trị trà ATK Thái Nguyên”.
Quá trình thực hiện đề tài không chỉ giúp học sinh được rèn tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm, mà điều tâm đắc hơn nữa là các em ý thức sâu sắc hơn về việc gìn giữ di sản quê nhà - cô Thân Thị Minh Trang - giáo viên hướng dẫn nhóm thực hiện đề tài bày tỏ niềm vui về thành quả của học trò.
Là học sinh dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên tại địa phương, Châm và các bạn có nhiều thuận lợi khi tham gia cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh cấp trung học. Hiểu rõ lịch sử, tập quán canh tác chè và giá trị văn hóa gắn với cây chè, Châm dễ dàng tiếp cận thực tiễn nghiên cứu. Việc được trực tiếp phỏng vấn người dân, nghệ nhân trồng chè giúp cho đề tài có tính chân thực và chiều sâu.
“Quá trình nghiên cứu, chúng em gặp không ít khó khăn, đặc biệt về điều kiện tài liệu và sự hỗ trợ từ các thiết bị hiện đại. Dù vậy, em cho rằng đây là trải nghiệm bổ ích, giúp em tự tin hơn và có thêm động lực học tập, nghiên cứu trong tương lai”, Châm bày tỏ những điều còn trăn trở và mong mỏi.
Lựa chọn đề tài thiết kế mô hình đèn dẫn đường thoát hiểm khi cháy, em Ma Anh Hùng (dân tộc Tày, lớp 12A1, Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT số 1 Thái Nguyên) cho biết: “Chúng em mong muốn xây dựng một hệ thống đèn có thể tự động phát hiện cháy, đưa ra cảnh báo và chỉ dẫn hướng thoát nạn tối ưu, góp phần giảm thiểu thương vong và bảo vệ an toàn cho người dân, đặc biệt học sinh, sinh viên đang sinh sống trong các khu nhà trọ và ký túc xá hiện nay”.
Điều khiến Hùng vui mừng nhất là đề tài đã tiếp cận được một số điều mới mẻ: Xây dựng mô hình dẫn đường thoát hiểm động thay vì cố định; tích hợp cảm biến để đánh giá tình huống thực tế; ứng dụng thuật toán lựa chọn lối thoát tối ưu; tích hợp trực quan hóa bằng LED hoặc màn hình chỉ dẫn; mô hình nhỏ gọn, chi phí thấp, dễ nhân rộng. Theo Hùng chia sẻ, dù còn một số yếu tố chưa hoàn thiện vì chưa đủ công nghệ hiện đại để dự tính trước các tác động từ môi trường khách quan, nhưng về cơ bản, kết quả như vậy đã vượt trên mong đợi của bản thân trước khi bắt tay vào thực hiện.
Cô Đinh Thị Lệ - giáo viên hướng dẫn nhóm thực hiện đề tài, chia sẻ thêm về quá trình nỗ lực của các học trò: “Bất kỳ lúc nào có thể tranh thủ thời gian, kể cả giờ giải lao hay tự học buổi tối, Hùng và nhóm đề tài lại chăm chú tìm hiểu thêm kiến thức trong tài liệu chuyên môn, lúi húi tháo lắp rồi thử nghiệm. Với tâm huyết đó, nếu có điều kiện hơn về phương tiện công nghệ cao, các em còn làm được nhiều điều hơn nữa”.

Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện hạn chế về hạ tầng, thiết bị và môi trường học tập, các trường vùng cao giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp học sinh dân tộc thiểu số tiếp cận khoa học công nghệ.
Xác định rõ điều này, nhiều trường tại Thái Nguyên đã nỗ lực trở thành cầu nối ban đầu giúp học sinh tiếp cận với khoa học công nghệ, chọn cách đi phù hợp với định hướng nghiên cứu về những vấn đề sát thực tiễn địa phương, giáo viên là người “dẫn đường” và lớp học là môi trường để được thử.
Tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS Đại Từ (xã Đại Phúc, Thái Nguyên), với tổng số gần 350 học sinh, nhà trường chỉ có 1 phòng máy vi tính duy nhất (20/30 máy còn sử dụng được) cùng 2 phòng thực hành về khoa học tự nhiên.
Theo các thầy cô giáo chia sẻ, do điều kiện đời sống vùng khó khăn, bản thân học sinh ở đây không nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phía gia đình, mọi nguồn lực cho nâng cao tìm tòi nghiên cứu đều hạn chế, cho nên chủ yếu là tự học và sự hướng dẫn sát sao hằng ngày của giáo viên.
Để phù hợp với đặc thù và điều kiện, năng lực, nhà trường thường định hướng học sinh tìm hiểu, thực hiện các đề tài gần gũi tại địa phương, qua đó vừa tạo điều kiện để các em làm quen và ứng dụng công nghệ, mà vẫn vừa sức để các em có thể phát huy năng lực của mình.
Đối với Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT số 1 Thái Nguyên, ngoài việc lồng ghép nội dung giáo dục khoa học công nghệ vào các môn học, nhà trường còn xây dựng môi trường để học sinh được trải nghiệm và phát triển bản thân như: Câu lạc bộ về học thuật, cuộc thi STEM…
Cô Đinh Thị Lệ - giáo viên môn Vật lí, Trường PT Dân tộc nội trú THPT số 1 Thái Nguyên cho rằng: Học sinh ở đây có sự chăm chỉ, cần cù, đặc biệt là khả năng tự lập, tính tự giác học tập cao, sinh hoạt nội trú… nên có thời gian để học tập tốt, tuy vậy do đặc thù điều kiện còn nhiều hạn chế, việc tiếp cận những vấn đề mới mẻ về khoa học công nghệ với các em còn nhiều trở ngại.
“Muốn các em phát huy hơn nữa, không thể thiếu phương tiện, thiết bị, tài liệu chuyên sâu để trang bị, rèn giũa, thực hành, được sống trong môi trường của khoa học công nghệ”, cô Lệ nhấn mạnh.
“Các thầy cô của trường luôn dẫn đường, sát sao, động viên khích lệ để học sinh mạnh dạn tìm tòi, khám phá, thực hành. Tuy vậy, muốn tiếp cận khoa học công nghệ hiệu quả còn cần thêm nhiều yếu tố hỗ trợ.
Chúng tôi thực sự mong muốn mời được những chuyên gia trong từng lĩnh vực, đến khơi nguồn cảm hứng và hướng dẫn, nâng tầm hiểu biết, năng lực khoa học công nghệ cho thầy và trò nhà trường”, bà Chu Thị Lan - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS Đại Từ bày tỏ trăn trở.