Văn hóa

Miền Trung qua bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường (tiếp theo và hết)

{Phạm Xuân Dũng} • 31/10/2026 05:10

Từ chuyện dòng-sông-nghệ-sĩ ngòi bút chấm phá những con- người- nghệ- sĩ. Những áng văn dù ngắn dài khác nhau về chí sĩ Phan Bội Châu, nhà thơ Trần Dần, nhà thơ Đoàn Phú Tứ, nhà văn Phùng Quán hay nhạc sĩ Văn Cao từng duyên nợ với dòng Hương đều khiến người đọc thấm thía cái mỹ vị của ngôn từ và cả những thâm sâu trí tuệ ẩn hiện đằng sau câu chữ.

Đó là “Ông già Bến Ngự” : “Suốt một đời chọc trời khuấy nước, trở về làm Tô Đông Pha đánh bạn với dòng sông sương mù, Phan Bội Châu tìm thấy ở sông Hương một tâm hồn bè bạn vừa sáng suốt vừa tinh nghịch để chia sẻ với ông những kinh nghiệm lịch sử làm cho triết nhân nheo mắt cười...”, hay nhà thơ Trần Dần đã khái quát màu tím sông Hương thành “nhân loại tím”; và thi sĩ Đoàn Phú Tứ nổi tiếng “màu thời gian tím ngát” như thể viết riêng cho dòng Hương đã hiện lên trong hồi ức của người thơ Hoàng Phủ : “ Qủa thực tôi đang đối diện với một đời nghệ sĩ tài hoa, đến bây giờ cốt cách vẫn chưa phai mờ. Tưởng lại gương mặt sầu buồn trải mấy mươi năm giữa xóm đê ven sông này, tôi kinh hãi nhận ra từ đáy ký ức vui buồn của ông, mải miết trôi đi một dòng sông tím ngát”. Lại thêm một quan sát và phát hiện của tác giả khi nói về chuyện uống rượu của chàng nghệ sĩ cốt cách hào hoa- Tư Mã (Tương Như) thời nay-nhạc sĩ Văn Cao, trong một đêm trên phá Tam Giang : “Anh Văn Cao rất lạ, anh có thể uống rượu với mọi người bằng một tâm cảm bè bạn như nhau, nhưng sẽ nhất định từ khước và bỏ đi khỏi cuộc nếu buộc phải nâng chén với một vài người nào đó mà anh nghi ngờ về nhân cách”. Đó không phải là thù tạc thông thường, không phải là đối ẩm giao bôi mà là chuyện đối nhân xử thế, cũng như dòng Hương không phải là vật thể thiên nhiên vô tri vô giác mà qua tâm sự của nghệ sĩ ngôn từ đã hiển hiện như một sông-người, một “nhân giang” trong cách nhìn Hoàng Phủ, và đương nhiên cần phải được đối xử như với một con người.

hpnt-3.jpg
Tuyển tập của Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Dù có nhiều duyên nợ với phía nam đèo Hải Vân, nhưng nếu đọc toàn bộ tuyển tập sáng tác của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường gồm bốn tập thì sẽ thấy ông viết về đất và người Quảng Nam không nhiều, chỉ có sáu bài : bốn bút ký và hai nhàn đàm nhưng lại rất đáng đọc và suy ngẫm.

Trong bút ký “Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say” độc giả thú vị trước một Quảng Nam như quen mà như lạ. Bắt đầu từ tên gọi Quảng Nam ra đời từ năm 1471 thời Lê Thánh Tôn và danh xưng hành chính Quảng Nam thừa tuyên với nghĩa : “đất mở rộng về phía Nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa”. Rồi nhà văn có cách nhìn thật khác : “Từ đỉnh đèo đổ về phía Nam, Trường Sơn chĩa thành những mũi đá kề cận nhau, giống như một đoàn người khổng lồ xô ra biển, nghịch ngợm choãi chân đá sóng, sóng vỗ sôi réo nơi ghềnh đá như tiếng cười của cuộc chơi miên trường của núi và biển”. Và rồi một sự- tình-của- đá lại xuất hiện trong tuyệt bút thi ca “Tạm biệt Huế” mà Hoàng Phủ đánh giá : “Chia tay Huế trên đỉnh đèo Hải Vân, Thu Bồn có một giọng thơ ngậm ngùi thật lạ:

Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng

Anh trở về hóa đá phía bên kia”

Hoàng Phủ miên trường trong cảm hứng sử thi nhớ về đám cưới mở cõi “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm...” của Huyền Trân Công Chúa cho đến thuyết địa linh nhân kiệt mà loài cây Lô hội sinh tồn trên núi Ngũ Hành Sơn là một minh chứng, gợi nhắc đến một câu nói nổi tiếng của một nhân vật kịch nước ngoài “Tồn tại hay không tồn tại”. Để rồi hành trình tâm sự ấy lại chạm đến hơi hướng và ca từ “Hòn Vọng Phu” của nhạc sĩ Lê Thương. Và lời kết vang lên hào sảng : “Đúng thế, Tổ quốc đã trao cho Quảng Nam một cửa biển và một thanh kiếm. Cầm lưỡi gươm thân phụ lưu truyền, sáu bảy trăm năm đứng trấn nơi hải khấu chiến lược, người Quảng Nam chưa bao giờ thiếu sót trong bản lĩnh bảo vệ Tổ quốc. Trên từng dòng quốc sử, đấy là điều khẳng định”.

Trong bút ký “Qua bài thơ “Vịnh Tam Tài” của Trần Cao Vân thử tìm quẻ “Nhân” trong Kinh Dịch” tác giả đã thử giải mã một ẩn số quan yếu bậc nhất trong hành trạng của Trần Chí Sĩ được phủ khói sương suốt gần thế kỷ. Bởi Kinh Dịch là một kinh thư cổ điển uyên áo khôn lường mà trước hết là vẫn là vũ trụ quan Đông Phương và dù được xem là “đạo của người quân tử” thì chỗ đứng của Con Người là ở đâu trong Kinh Dịch vẫn là nỗi băn khoăn triết học lớn nhất của Trần Cao Vân. Nên dù đã có nhiều luận giải trước đó, nhưng “...chắc chắn là chưa thể đáp ứng khát vọng triết học của Trần Cao Vân, người đã dành suốt một đời trí tuệ để tìm cho ra một học thuyết mang tinh túy và tầm vóc của Kinh Dịch để làm nền tảng cho Con Người Hành Động. Học thuyết tìm kiếm ấy, Trần Cao Vân gọi bằng cái tên chấn động, là Trung Thiên Dịch.”

Tác phẩm này hệ trọng đến nỗi khi nghe đồng chí Châu Thơ Đồng tuẫn tiết ở lao Thửa Phủ (Huế), từ nhà tù Côn Đảo, Trần Cao Vân đã lý giải vì sao mình cần phải sống qua câu đối viếng bạn : “Ta có tiếc sống đâu!Ngặt vì Dịch Trung Thiên mới mở đầu, Dũ Lý bảy năm chưa diễn trọn”

Luận đề triết học về quan hệ Thiên-Địa-Nhân được Trần Cao Vân thể hiện qua bài thơ “Vịnh Tam Tài”:

Trời đất sinh ta có ý không?

Chưa sinh Trời Đất có ta trong

Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh

Trời Đất in ta một chữ đồng

Đất nứt ta ra Trời chuyển động

Ta thay Trời mở Đất mênh mông

Trời che Đất chở Ta thong thả

Trời-Đất-Ta đây đủ Hóa công.

Qua khảo sát và phân tích, theo Hoàng Phủ Ngọc Tường thì quẻ Nhân mà chúng ta tìm kiếm trong Kinh Dịch chính là quẻ Tiệm (chỉ con chim Hồng) và khẳng định Trung Thiên Dịch của Trần Cao Vân chính là Nhân Dịch. Người viết còn cả quyết :” Dù chưa hoàn tất bản thảo, qua bài thơ Vịnh Tam Tài, chúng ta vẫn nhận rõ ở Trần Cao Vân diện mạo của một nhà tư tưởng lớn, với một Kinh Dịch Việt Nam mang tư tưởng nhân bản chưa từng có...”

Trong nhàn đàm “Báo Tiếng Dân kiểu mới” tác giả nhắc đến sứ mệnh ngôn từ của người cầm bút. Nhà văn nhắc lại tờ báo nổi danh do cụ Huỳnh Thúc Kháng, một sĩ phu Quảng Nam sáng lập và điều hành, có tuổi thọ đến 16 năm giữa kinh sư Huế trong chế độ thực dân phong kiến hà khắc. Tính thân dân và chiến đấu của “Tiếng Dân” thể hiện trước hết nó là tờ báo tự thu tự chi, mặt khác tôn chỉ của tờ báo là :”Không thể nói hết Tiếng của Dân, nhưng báo chủ trương rằng”dù không nói được điều muốn nói thì cũng không nói những điều người ta buộc phải nói”. Ngay cả quảng cáo cũng chọn lọc, không đăng tải những nội dung tác hại đến phong hóa hoặc phóng đại quá xa sự thật. Một tờ báo ra đời cách đây hơn 90 năm nhưng vẫn để lại nhiều bài học truyền thông mang tính thời sự cho đến hôm nay.

Vẫn còn những trang viết thú vị, bổ ích về Lũy Thầy (Quảng Bình), về Tây Sơn (Bình Định) ...cho ta thấu tỏ hơn về những mảnh đất gắn bó với tên tuổi Đào Duy Từ hay Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân như những trải nghiệm lịch sử, văn chương sinh động và hữu ích.

Đúng là Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về mỗi địa dư trên dải đất đòn gánh miền Trung có thể nhiều ít khác nhau nhưng đích đáng: hay, sâu và thường có những tìm tòi, khám phá. Nó thể hiện một tình yêu trĩu nặng với dải đất này và câu chữ tinh lọc tuôn trào từ một nội lực văn chương thâm hậu.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Miền Trung qua bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường (tiếp theo và hết)