Dự thảo bộ tiêu chí đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 đặt ra yêu cầu cấp thiết về bồi dưỡng GV để đảm bảo khả năng triển khai trong thực tế.

Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở đội ngũ giáo viên tiếng Anh mà nằm ở các giáo viên dạy môn chuyên môn. Ông Bùi Minh Quảng, Hiệu trưởng Trường THPT Sơn Trà (phường An Hải, TP Đà Nẵng) thẳng thắn chia sẻ rằng việc yêu cầu giáo viên dạy các môn như Hoạt động trải nghiệm hay Nội dung giáo dục địa phương bằng tiếng Anh là một thử thách quá lớn.
Theo phân tích của ông Quảng, đa số giáo viên hiện nay được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn. Với các hoạt động đặc thù này, thầy cô chủ yếu chỉ tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn, nên để bắt buộc họ phải có trình độ tiếng Anh đủ để giảng dạy rất khó khăn.
Bà Võ Thị Hồng Đào, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi (xã Trà My, TP Đà Nẵng) băn khoăn về tiêu chuẩn yêu cầu có ít nhất ba môn học hoặc hoạt động giáo dục được sử dụng bằng tiếng Anh. Khi giáo viên chưa đảm bảo được năng lực tiếng Anh mà phải loay hoay với chuyển ngữ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lượng kiến thức mà học sinh tiếp nhận.
Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi có 65% học sinh là người dân tộc thiểu số, việc yêu cầu học sinh học tập trên nền tảng số bằng tiếng Anh hay triển khai dạy học tích hợp là “bài toán vượt ngưỡng” khi điều kiện thiết bị, kết nối còn hạn chế. Hơn nữa, quy định chuyển đổi phần lớn hồ sơ, học bạ sang tiếng Anh khiến bộ phận văn thư, giáo vụ gặp khó, trong khi đây là lực lượng chưa được đào tạo ngoại ngữ bài bản. "Mục tiêu cuối cùng là người học đạt được chất lượng như thế nào, chứ nếu áp dụng mà làm chất lượng bộ môn không đạt chuẩn đầu ra của chương trình thì rất khó khăn", bà Đào chia sẻ.

Ông Trình Quang Long, Hiệu trưởng Trường THCS Lê Thánh Tôn (phường Hải Châu, Đà Nẵng) cho biết, đối chiếu với các tiêu chí của dự thảo, ngay cả mức độ 1, nhà trường khó đáp ứng được chỉ báo tỷ lệ tiết học và bài học bằng tiếng Anh đạt 25%. Vì vậy, cần hạ chỉ báo của mức độ 1 từ 5 - 10% để tăng tính khả thi.
Trường THCS Lê Thánh Tôn hiện có 4 giáo viên tiếng Anh và 29 giáo viên các bộ môn khác. Dù tất cả đều đạt chuẩn về văn bằng, nhưng khả năng sử dụng tiếng Anh thực tế trong giao tiếp và giảng dạy chuyên môn vẫn là một rào cản lớn. Vì vậy, cần một lộ trình dài hơi từ 5 đến 10 năm, trong đó việc bồi dưỡng cán bộ quản lý và nhân viên hành chính phải được đặt lên hàng đầu. Ông cũng đề xuất điều chỉnh chỉ tiêu hợp tác quốc tế xuống mức 1 hoạt động mỗi năm thay vì 3-5 hoạt động như dự thảo để phù hợp với thực tế.
Ngoài đề xuất hạ chỉ số của các tiêu chí, đại diện UBND phường Quảng Phú (TP Đà Nẵng) kiến nghị cần xác định rõ các điều kiện bắt buộc. Cách tiếp cận này giúp tạo động lực cho các trường tham gia, thay vì tạo áp lực ngay từ đầu. Cần tích hợp các tiêu chí tiếng Anh vào hệ thống đánh giá hiện hành như trường chuẩn quốc gia, kiểm định chất lượng… để giảm chồng chéo và tăng hiệu quả quản lý.
PGS.TS Trần Hữu Phúc, Chủ tịch Công đoàn Đại học Đà Nẵng bày tỏ sự đồng tình với mục tiêu chung của việc chuẩn hóa giáo dục song ngữ, nhưng ông nhấn mạnh rằng phương pháp và lộ trình thực hiện mới là yếu tố quyết định.
“Tôi cho rằng cần phải có hướng dẫn để các bên liên quan bắt tay vào việc”, ông Phúc đề xuất. Các bên liên quan ở đây không chỉ là trường phổ thông, đội ngũ giáo viên, nhà quản lý mà còn là lãnh đạo các địa phương - những người nắm giữ nguồn lực đầu tư về cơ sở vật chất và tài chính.
PGS.TS Trần Hữu Phúc nhận định trong 6 tiêu chuẩn được nêu ra, tiêu chuẩn thứ hai về chương trình và hoạt động dạy học cần được ưu tiên hàng đầu. Ông lưu ý rằng chương trình giáo dục không chỉ nằm trên giấy mà là một hệ sinh thái gồm người dạy, người học, sách giáo khoa và sự tương tác giữa giáo viên - học sinh.
Để tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học, PGS.TS Trần Hữu Phúc cho rằng cần thay đổi tư duy đào tạo: không chỉ dừng lại ở việc bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh, mà là bồi dưỡng giáo viên các môn học khác bằng tiếng Anh. Để làm được điều này, cần có chương trình bồi dưỡng bài bản, giúp tất cả đối tượng từ giáo viên, quản lý đến cả nhân viên văn thư đều có thể tiếp cận và thích nghi.

Thay vì triển khai ồ ạt, PGS.TS Trần Hữu Phúc gợi ý một phương án tiếp cận “an toàn” và hiệu quả hơn: chọn một số môn học để triển khai thí điểm, có thể chọn một số môn như Toán, Công nghệ... “Chúng ta làm để rút kinh nghiệm, từ đó xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá đầy đủ hơn. Phải làm một cách cụ thể để xác định lộ trình: rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ sản phẩm” ông Phúc khẳng định. Một khi người dạy và người học đã thực sự nhập cuộc, các yếu tố hỗ trợ xung quanh sẽ tự động hình thành một cách tự nhiên thay vì khiên cưỡng áp đặt các con số định mức phần trăm.
Để minh chứng cho tầm quan trọng của môi trường giao tiếp, ông Phúc kể câu chuyện thú vị về những đứa trẻ ở Ngũ Hành Sơn có thể nói được nhiều thứ tiếng nhờ giao tiếp với khách du lịch, hay nhiều người bán hàng lưu niệm ở Hội An có thể tự tin trò chuyện về văn hóa với khách nước ngoài bằng ngoại ngữ. “Chúng ta tạo ra không gian, môi trường để phát triển ngôn ngữ, nhưng trước hết, cần đầu tư vào người dạy để kỳ vọng của chúng ta đi đúng hướng”, Chủ tịch Công đoàn Đại học Đà Nẵng đề xuất.
TS Lê Thị Giao Chi, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng cho biết, việc dạy tiếng Anh qua các môn học như Toán và Khoa học đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Đây là lộ trình giúp học sinh tiếp cận ngoại ngữ tự nhiên và thực tế hơn, thay vì chỉ học ngôn ngữ đơn thuần. Tuy nhiên, để dùng tiếng Anh như một ngôn ngữ trong dạy học tích hợp, giáo viên cần được hỗ trợ cả về phương pháp, học liệu và thời gian thích nghi. Vì vậy, trong bồi dưỡng giáo viên cần gắn với xây dựng môi trường ngôn ngữ thực chất.