Chính sách giáo dục

Số hóa văn bằng, chứng chỉ: Tăng minh bạch, giảm gian lận, nâng cao năng lực học tập

Nguyễn Nhung 16/02/2026 12:04

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đã ghi nhận văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân có thể được cấp dưới dạng giấy hoặc số.

Tân cử nhân Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.
Tân cử nhân Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Đây là bước tiến quan trọng, giúp ngành Giáo dục hoàn thiện hệ thống quản lý minh bạch, ngăn chặn gian lận, giả mạo, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để người học tra cứu và xác thực văn bằng theo chuẩn quốc tế.

Từ văn bằng truyền thống đến yêu cầu đổi mới

TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm Khoa Công nghệ Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định, trong kỷ nguyên số hóa và toàn cầu hóa, hệ thống giáo dục đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức chưa từng có. Sự bùng nổ thông tin, khả năng tiếp cận tri thức rộng mở và phát triển các công nghệ mới tạo tiềm năng lớn nâng cao chất lượng giáo dục.

Tuy nhiên, đi kèm là những vấn đề phức tạp, trong đó nổi bật là “khủng hoảng niềm tin” vào cơ chế xác thực và giá trị của chứng chỉ học thuật. Văn bằng giả, hoài nghi về năng lực thực sự của người học, cũng như “độ trễ” của các mô hình giáo dục truyền thống trước tốc độ thay đổi của thị trường lao động đang trở thành rào cản lớn đối với phát triển bền vững nguồn nhân lực.

Theo TS Tôn Quang Cường, văn bằng giả và gian lận học thuật không chỉ vi phạm đạo đức mà còn đe dọa tính toàn vẹn và uy tín của hệ thống giáo dục. Trong mô hình tập trung hiện nay, việc xác minh văn bằng thường đòi hỏi quy trình thủ công, tốn nhiều thời gian và nguồn lực, đồng thời dễ bị lợi dụng.

Ví dụ, khi nhà tuyển dụng muốn xác minh bằng cấp của ứng viên, họ thường phải liên hệ trực tiếp với cơ sở giáo dục cấp bằng qua các thủ tục kéo dài, trong khi vẫn tồn tại nguy cơ nhận thông tin sai lệch hoặc hồ sơ giả mạo. Sự phức tạp, hành chính cồng kềnh và thiếu minh bạch này vô tình tạo kẽ hở, khiến văn bằng giả tồn tại.

Một hạn chế cố hữu của tấm bằng truyền thống là chỉ ghi nhận kết quả cuối cùng như điểm số tổng kết, xếp loại tốt nghiệp. Tấm bằng không phản ánh toàn bộ dữ liệu về quá trình nỗ lực, tiến trình phát triển kỹ năng hay kinh nghiệm học tập đa dạng mà cá nhân đã tích lũy trong suốt hành trình giáo dục và nghề nghiệp. Dù đánh giá thường xuyên đã được áp dụng phổ biến trong giáo dục hiện nay, việc quản lý, ghi nhận và tổng hợp dữ liệu đánh giá liên tục một cách minh bạch, đáng tin cậy và chống giả mạo vẫn là vấn đề chưa được giải quyết.

“Những hạn chế này khiến nhà tuyển dụng gặp khó khăn trong việc đánh giá toàn diện ứng viên, bởi họ không thể nắm trọn bức tranh về sự phát triển kỹ năng và kinh nghiệm của người học. Đồng thời, người học cũng khó thể hiện đầy đủ năng lực, tiềm năng chỉ thông qua một tấm bằng duy nhất.

Giá trị của bằng cấp không còn nằm ở tờ giấy in ra, mà ở khả năng chứng minh năng lực thực sự, khả năng thích ứng với yêu cầu mới và khả năng học hỏi liên tục. Bằng cấp truyền thống, với tính chất ‘tĩnh’, đang dần trở nên lỗi thời trong việc phản ánh những giá trị này, đặc biệt khi các kỹ năng cần thiết cho công việc có tính ‘động’, thay đổi nhanh chóng và đòi hỏi cập nhật liên tục”, TS Tôn Quang Cường nêu quan điểm.

so-hoa-van-bang-chung-chi-3.jpg
Giờ học tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. Ảnh: NTCC

Văn bằng, chứng chỉ số: Lợi ích đa chiều

Số hóa văn bằng, chứng chỉ và triển khai văn bằng, chứng chỉ số đang trở thành xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Đây không chỉ là yêu cầu từ sự phát triển của công nghệ mà còn là nhu cầu khách quan trong quản lý Nhà nước, quản trị giáo dục và đáp ứng đòi hỏi của xã hội số.

Khẳng định điều này, ông Nguyễn Vinh San - Trưởng phòng Công tác Sinh viên, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, cho biết: Khi triển khai văn bằng, chứng chỉ số, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động có thể dễ dàng tra cứu, xác minh thông tin ngay lập tức. Nhờ đó, thời gian và chi phí được tiết kiệm đáng kể, đồng thời độ chính xác được nâng cao. Việc xác thực văn bằng không còn phụ thuộc vào thủ tục thủ công, giảm thiểu nguy cơ làm giả hay sử dụng văn bằng không hợp pháp.

So với văn bằng giấy - vốn chỉ được cấp phôi một lần và dễ hư hỏng, thất lạc - văn bằng số khắc phục được nhiều hạn chế. Người học có thể chủ động truy cập và sử dụng linh hoạt, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian hay hình thức lưu trữ vật lý.

Đối với các cơ sở giáo dục, triển khai văn bằng số mang lại nhiều lợi ích thiết thực: tiết kiệm thời gian và chi phí in ấn, cấp phát, giảm khối lượng công việc hành chính, đồng thời hạn chế các thủ tục xác minh văn bằng thủ công theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức bên ngoài. Nhờ đó, nhà trường có điều kiện tập trung hơn vào công tác chuyên môn, nâng cao chất lượng đào tạo.

Từ thực tiễn giáo dục phổ thông, ông Trịnh Nguyễn Thi Bằng - Hiệu trưởng Trường THPT Trần Đại Nghĩa (Cần Thơ), nhận định, việc công nhận văn bằng, chứng chỉ số mang ý nghĩa rất lớn. Khi có cơ sở pháp lý rõ ràng, việc xác thực trở nên nhanh chóng và minh bạch hơn, góp phần hạn chế làm giả, giảm thủ tục photo, công chứng hay đối chiếu.

Học sinh khi nộp hồ sơ xét tuyển, xin việc, đăng ký học nghề hay làm thủ tục hành chính chỉ cần cung cấp mã/QR tra cứu từ nguồn chính thống, giảm hẳn tình trạng thất lạc hoặc phải quay lại trường xin xác nhận nhiều lần.

Ông Đinh Tiến Hoàng - Hiệu trưởng Trường PTDTBT THCS Nậm Cắn (Nậm Cắn, Nghệ An), đánh giá: Bên cạnh việc nâng cao tính minh bạch, chống gian lận, văn bằng số còn mở ra cơ hội tiếp cận bình đẳng cho học sinh ở mọi vùng miền, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

“Văn bằng số sẽ thay đổi căn bản cách quản lý, sử dụng và đánh giá năng lực người học. Trước đây, việc quản lý còn nặng về hồ sơ giấy, phân tán và dễ thất lạc. Nay dữ liệu được số hóa, liên thông, cho phép tra cứu và xác minh nhanh chóng.

Người học có thể sử dụng văn bằng mọi lúc, mọi nơi khi tiếp tục học tập hoặc xin việc, không bị rào cản về địa lý. Về lâu dài, văn bằng số còn tạo nền tảng để chuyển mạnh sang đánh giá năng lực, quá trình học tập và kỹ năng thực tiễn, thay vì chỉ dựa vào một tấm bằng giấy”, ông Đinh Tiến Hoàng chia sẻ.

so-hoa-van-bang-chung-chi-1.jpg
Lễ tốt nghiệp và trao bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ đợt 1 năm 2025 tại Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Đồng bộ pháp lý, công nghệ và nhận thức xã hội

Nói về giải pháp triển khai văn bằng số, TS Tôn Quang Cường nhấn mạnh vai trò của công nghệ Blockchain. Ông cho biết, từ năm 2021, Bộ GD&ĐT đã tiên phong triển khai Hệ thống tra cứu thông tin văn bằng, chứng chỉ dựa trên nền tảng Blockchain, góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo mật và chống làm giả. Một số trường đại học trong nước cũng đã hợp tác với các đơn vị cung cấp công nghệ để tích hợp Blockchain sâu vào quản lý đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ trong thực tiễn.

Tuy nhiên, việc tích hợp Blockchain vẫn đối mặt nhiều khó khăn, từ nhận thức, khả năng chấp nhận và kỹ năng công nghệ của các bên liên quan, đến hạ tầng kỹ thuật và sự chậm trễ trong áp dụng trên quy mô hệ thống giáo dục quốc gia. Quá trình tích hợp còn đòi hỏi điều chỉnh phức tạp và đầu tư đáng kể về hạ tầng công nghệ cũng như nguồn lực khác.

Để giải quyết vấn đề này, TS Tôn Quang Cường đề xuất triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng quy định bảo vệ dữ liệu và tiêu chuẩn kỹ thuật cho Blockchain trong giáo dục, tạo môi trường phát triển an toàn, bền vững. Các cơ sở giáo dục cần phát triển chương trình đào tạo chuyên sâu về Blockchain cho nhà giáo, cán bộ quản lý và người học nhằm nâng cao nhận thức và năng lực số.

“Để giải quyết các bài toán công nghệ, cần xây dựng hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học và doanh nghiệp, triển khai hạ tầng lai (điện toán đám mây kết hợp mạng phi tập trung) theo từng bước để tối ưu hóa chi phí và hiệu quả. Khi trao quyền tự chủ cho người học và xây dựng nền tảng niềm tin vững chắc, Blockchain sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia”, TS Tôn Quang Cường lưu ý.

Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Vinh San nhấn mạnh cần cách tiếp cận hệ thống, thống nhất ở cấp quốc gia. Nhà nước nên xây dựng một hệ thống phần mềm dùng chung, làm nền tảng để các cơ sở giáo dục tạo lập, quản lý, lưu trữ và tra cứu văn bằng, chứng chỉ số. Việc thống nhất một hệ thống giúp cơ sở giáo dục triển khai thuận lợi, đồng thời tạo điều kiện để xã hội, cơ quan quản lý, doanh nghiệp chỉ cần một cổng duy nhất để tra cứu và xác minh thông tin.

Với giáo dục phổ thông, ông Trịnh Nguyễn Thi Bằng đề xuất ba nhóm giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, chuẩn hóa và liên thông: ban hành chuẩn dữ liệu và quy trình phát hành, xác thực thống nhất; xây dựng cơ sở dữ liệu văn bằng, chứng chỉ tin cậy, kết nối thông suốt giữa trường - sở - Bộ, để nơi tiếp nhận chỉ cần “quét và kiểm tra”.

Thứ hai, triển khai theo lộ trình: thí điểm ở một số địa phương hoặc nhóm trường, đo lường thời gian xử lý và tỷ lệ xác minh thành công, sau đó mở rộng; đồng thời xây dựng quy trình đính chính khi có sai sót để không làm khó người học.

Thứ ba, bảo đảm an toàn và chấp nhận xã hội: tăng cường bảo mật, phân quyền truy cập, hướng dẫn sử dụng đơn giản cho học sinh; tập huấn và truyền thông cho các đơn vị tiếp nhận hồ sơ (trường đại học, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước) để họ quen dùng và tin tưởng văn bằng số.

Để triển khai văn bằng, chứng chỉ số, ông Đinh Tiến Hoàng đề xuất cần đầu tư và hoàn thiện hạ tầng số, đặc biệt ưu tiên cho các vùng khó khăn. Song song với đó, việc bồi dưỡng năng lực số cho cán bộ quản lý và giáo viên phải được coi là điều kiện bắt buộc trong quá trình chuyển đổi số, nhằm tránh tình trạng có chủ trương nhưng thiếu con người thực hiện.

Ông Hoàng cũng nhấn mạnh cần xây dựng cơ sở dữ liệu giáo dục liên thông, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, tránh tình trạng manh mún, chồng chéo. Việc triển khai nên theo lộ trình rõ ràng, bắt đầu từ thí điểm, rút kinh nghiệm, tránh dàn trải hay mang tính hình thức. Cuối cùng, truyền thông và hướng dẫn cho phụ huynh, học sinh là bước không thể thiếu, giúp người dân hiểu, tin tưởng và sử dụng hiệu quả văn bằng số.

Theo ông Nguyễn Vinh San, bên cạnh việc phát triển hạ tầng công nghệ, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đồng thời thay đổi tư duy quản lý và quy trình nghiệp vụ. Điều này nhằm bảo đảm sự thừa nhận thống nhất về giá trị pháp lý của văn bằng, chứng chỉ số trong toàn hệ thống. Chỉ khi các yếu tố pháp lý, công nghệ và nhận thức xã hội được triển khai đồng bộ, văn bằng, chứng chỉ số mới thực sự phát huy hiệu quả, trở thành bộ phận không thể thiếu trong hệ sinh thái giáo dục số quốc gia.

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/so-hoa-van-bang-chung-chi-tang-minh-bach-giam-gian-lan-nang-cao-nang-luc-hoc-tap-post767482.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/so-hoa-van-bang-chung-chi-tang-minh-bach-giam-gian-lan-nang-cao-nang-luc-hoc-tap-post767482.html
Bài liên quan
Hơn 10 triệu học bạ, 1,5 triệu văn bằng đã được số hóa
Năm 2025, ngành Giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, cấp văn bằng số cho hơn 10 triệu học bạ và hơn 1,5 triệu văn bằng tốt nghiệp.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Số hóa văn bằng, chứng chỉ: Tăng minh bạch, giảm gian lận, nâng cao năng lực học tập