Tuyên Quang định hình cách làm mới trong giáo dục nghề nghiệp, đầu tư đi cùng nhu cầu, cơ sở đào tạo phải gần người học.

Mở lớp học nghề ngay nơi người dân làm việc
Tại thôn Khuổi Hóp, xã Việt Lâm, một lớp đào tạo nghề trồng và chế biến chè được tổ chức ngay giữa vùng nguyên liệu với 31 học viên. Thay vì học nghề theo cách tách rời sản xuất, người dân được học từ chính cây chè đang nuôi sống gia đình mình, kết hợp lý thuyết với thực hành về nhân giống, chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh.
Cách học này giúp kiến thức không nằm lại trong giáo trình. Chị Đặng Thị Mảng, một học viên của lớp học, cho biết trước đây gia đình chủ yếu trồng chè theo kinh nghiệm truyền lại. Sau khóa học, chị hiểu rõ hơn đặc điểm sinh trưởng của cây, biết chăm sóc theo từng thời kỳ và sử dụng phân bón hợp lý.
“Những kiến thức đó đến nay vẫn được em áp dụng trong chăm sóc chè của gia đình”, chị Mảng chia sẻ.

Từ thực tế đó có thể thấy, “đào tạo nghề tại chỗ” không đơn giản là mang một lớp học đến địa phương. Quan trọng hơn là xác định học nghề gì, học ở đâu, học bằng thiết bị nào và học xong để làm gì.
Tại xã Lùng Tám, mô hình này cũng đang được triển khai theo hướng linh hoạt. Năm 2026, địa phương phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Quản Bạ tổ chức các lớp nghề ngay tại thôn, trong đó có nấu ăn, du lịch cộng đồng, sửa chữa máy nông cụ, pha chế đồ uống và sử dụng máy tính. Các nghề được lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Không chỉ “đầu tư “đủ”, cần đầu tư “đúng”
Nếu đào tạo nghề tại chỗ là đưa kiến thức đến gần người dân thì đầu tư cơ sở đào tạo nghề phải giải được bài toán về thiết bị, nhà giáo và môi trường thực hành.
Năm 2026, Tuyên Quang đặt mục tiêu tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp 10.806 người; trong đó 2.095 người ở trình độ cao đẳng, trung cấp và 8.711 lao động nông thôn học trình độ sơ cấp hoặc dưới 3 tháng theo phương thức đặt hàng. Các nghề được lựa chọn tập trung vào những lĩnh vực có nhu cầu sử dụng lao động và lợi thế của từng địa phương như nông nghiệp, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng, dịch vụ, trồng chè, dược liệu, chăn nuôi, dệt thổ cẩm...
Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp không thể đầu tư dàn trải, mỗi nơi một ít, mà cần xác định rõ nghề thế mạnh của từng vùng để đầu tư có trọng tâm.

Theo định hướng của tỉnh Tuyên Quang, hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp được rà soát, sắp xếp theo hướng tinh gọn, đồng bộ; từng bước nâng cao điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, đội ngũ nhà giáo và chương trình đào tạo. Một số trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên được định hướng đầu tư, nâng cấp, chuyển đổi phù hợp, trong khi Trường Cao đẳng Tuyên Quang được đặt mục tiêu xây dựng đạt chuẩn quốc gia, hướng tới đáp ứng vai trò trung tâm đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao của vùng.
Sau khi sáp nhập hai cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Trường Cao đẳng Tuyên Quang đang trở thành một đầu mối đào tạo nghề lớn của tỉnh. Theo Báo Tuyên Quang, đến tháng 8/2026, nhà trường duy trì 125 lớp với trên 3.600 học viên, học sinh, sinh viên; đồng thời hợp tác với hơn 80 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Đáng chú ý, nhà trường duy trì mô hình “học đi đôi với hành”. 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận môi trường thực tế tại doanh nghiệp; doanh nghiệp tham gia vào quá trình biên soạn, chỉnh sửa, thẩm định chương trình và hỗ trợ thiết bị phục vụ đào tạo.
Theo ông Trần Nhữ Thanh, Trưởng phòng Tuyển sinh và Hợp tác doanh nghiệp Trường Cao đẳng Tuyên Quang, sự đồng hành của doanh nghiệp giúp nhà trường có cơ sở cập nhật chương trình sát với thực tiễn và yêu cầu của thị trường lao động. Đây chính là một trong những nội dung quan trọng khi tính toán đầu tư cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Bởi một xưởng thực hành hiện đại nhưng thiết bị không còn phù hợp với công nghệ sản xuất sẽ khó tạo ra người lao động đáp ứng được yêu cầu doanh nghiệp. Ngược lại, thiết bị được lựa chọn theo nhu cầu thực tế, có doanh nghiệp cùng tham gia và nhà giáo đủ năng lực vận hành sẽ tạo ra giá trị lớn hơn nhiều.
Thực tế tại Tuyên Quang, mô hình đào tạo nghề đang dịch chuyển từ tư duy “có cơ sở mới mở lớp” sang “nơi nào có nhu cầu, nơi đó có thể trở thành điểm học nghề”, miễn bảo đảm chương trình, nhà giáo, thiết bị và chất lượng đào tạo.
Đây cũng là tinh thần được tỉnh xác định trong kế hoạch đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2026-2030, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu thị trường lao động, chuyển đổi số, kinh tế xanh, nông nghiệp sinh thái; đồng thời ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho những nghề trọng điểm.
Theo ông Bùi Quang Trí, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang, tỉnh tiếp tục tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong tuyển sinh, đào tạo, thực hành, thực tập và tuyển dụng.
Tại Trường Cao đẳng Tuyên Quang, em Nguyễn Ngọc Anh Thư, học sinh lớp Trung cấp Kinh doanh thương mại và dịch vụ K21A, cho biết thời lượng thực hành chiếm 60-70% chương trình. Việc được “rèn nghề” thông qua hoạt động thực tế giúp người học nhanh chóng hình thành kỹ năng, tác phong và sự tự tin khi bước vào môi trường lao động.
Hiện tỷ lệ sinh viên cao đẳng của trường có việc làm ngay sau tốt nghiệp đạt 98%; học sinh hệ trung cấp đạt 95-96%. Những con số này cho thấy đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đo bằng năng lực của người học và khả năng có việc làm sau đào tạo.
Với Tuyên Quang, đầu tư cho cơ sở đào tạo nghề vì thế không chỉ là xây thêm phòng học hay mua thêm máy móc. Đó là đầu tư cho một hệ sinh thái đào tạo gồm nhà trường, chính quyền, doanh nghiệp, vùng sản xuất và chính người học.