Học bạ số giúp hình thành hệ thống hồ sơ học tập liên thông, minh bạch, song cần đồng bộ hạ tầng, kinh phí và nhân lực để triển khai hiệu quả.

Bộ GD&ĐT công bố dự thảo Thông tư quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên.
Nghiên cứu dự thảo, ông Lê Văn Hòa - Giám đốc Trung tâm GDTX - Tin học, Ngoại ngữ tỉnh Quảng Trị nhận định, vai trò nổi bật của học bạ số là góp phần hình thành hồ sơ học tập suốt đời cho người học. Nếu trước đây học bạ chủ yếu được quản lý theo từng năm học, từng cấp học một cách tách biệt, thì học bạ số được thiết kế như một dữ liệu điện tử pháp lý gốc, gắn với mã định danh duy nhất của mỗi người học trong hệ thống hồ sơ học tập suốt đời. Với cách tiếp cận này, học bạ số trở thành “trục dữ liệu” xuyên suốt, ghi nhận quá trình hình thành và phát triển năng lực của mỗi cá nhân từ khi bắt đầu đi học cho đến khi trưởng thành.
Theo ông Lê Văn Hòa, đối với cơ quan quản lý giáo dục, học bạ số giúp theo dõi, phân tích, đánh giá và đưa ra các dự báo chính xác về chất lượng giáo dục, từ đó phục vụ hoạch định chính sách; đồng thời hỗ trợ công tác phân luồng, hướng nghiệp sát với nhu cầu thực tiễn.
Đối với cơ sở giáo dục, học bạ số góp phần chuẩn hóa toàn bộ quy trình quản lý, từ tạo lập, cập nhật đến ký số, qua đó giảm đáng kể gánh nặng thủ tục hành chính, áp lực hồ sơ, sổ sách cho giáo viên và cán bộ quản lý. Khi học sinh chuyển trường, dữ liệu học tập được đồng bộ và kế thừa tự động, hạn chế tình trạng thất lạc hồ sơ hoặc gián đoạn thông tin. Cùng với đó, việc ứng dụng chữ ký số của giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và hiệu trưởng, kết hợp cơ chế lưu vết dữ liệu, giúp tăng cường tính minh bạch, hạn chế nguy cơ chỉnh sửa, làm sai lệch thông tin học tập.
Đối với người học và phụ huynh, học bạ số tạo điều kiện tiếp cận thông tin nhanh chóng, minh bạch và thuận tiện hơn. Phụ huynh và học sinh có thể được phân quyền truy cập để theo dõi kết quả học tập, rèn luyện theo thời gian thực, qua đó tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Khi thực hiện các thủ tục hành chính như chuyển trường, tuyển sinh hoặc xác minh quá trình học tập, học bạ số có thể được sử dụng trực tiếp thông qua các nền tảng số như VNeID hoặc Cổng Dịch vụ công, góp phần giảm bớt giấy tờ, thủ tục hành chính.
Ở phạm vi rộng hơn, học bạ số được thiết kế để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đồng thời tích hợp với các nền tảng số quốc gia. Điều này giúp dữ liệu giáo dục trở thành một bộ phận của hạ tầng dữ liệu quốc gia, góp phần thúc đẩy tiến trình xây dựng Chính phủ số và xã hội số.

Từ thực tiễn triển khai chuyển đổi số tại nhà trường, ông Cầm Văn Thân - Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Huy Bắc (xã Phù Yên, Sơn La) cho rằng việc triển khai học bạ số mang lại nhiều lợi ích, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với các cơ sở giáo dục, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa.
Khó khăn đầu tiên là vấn đề hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin. Dự thảo quy định các nhà trường phải chủ động bảo đảm hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị, phần mềm đáp ứng chuẩn và tổ chức sao lưu, phục hồi dữ liệu. Tuy nhiên, tại nhiều trường học vùng khó khăn, nguồn kinh phí còn hạn hẹp, hệ thống máy tính đã xuống cấp, đường truyền Internet chưa thực sự ổn định, ảnh hưởng đến việc cập nhật và truyền nhận dữ liệu theo thời gian thực.
Bên cạnh đó, quy định giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và người đứng đầu cơ sở giáo dục phải sử dụng chữ ký số cá nhân để hoàn thiện học bạ cũng tạo ra áp lực không nhỏ về tài chính. Việc trang bị chữ ký số và duy trì chi phí gia hạn hằng năm cho toàn bộ đội ngũ giáo viên đòi hỏi nguồn kinh phí đáng kể, trong khi hiện chưa có quy định cụ thể về cơ chế hỗ trợ hoặc nguồn chi trả cho nội dung này.
Một thách thức khác là yêu cầu số hóa, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu từ học bạ giấy hiện có để đồng bộ với hệ thống học bạ số. Theo ông Thân, đây là khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và nhân lực để kiểm tra, đối soát dữ liệu. Trong điều kiện nhiều trường học chưa có nhân sự chuyên trách về công nghệ thông tin, nhiệm vụ này chủ yếu dồn lên đội ngũ giáo viên và nhân viên nhà trường, đặc biệt là giáo viên Tin học vốn đang phải kiêm nhiệm nhiều công việc liên quan đến chuyển đổi số.
Để bảo đảm tính khả thi khi triển khai, ông Cầm Văn Thân đề xuất xây dựng cơ chế hỗ trợ 100% kinh phí cấp phát, duy trì chữ ký số cá nhân cho giáo viên, đồng thời đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin tối thiểu cho các cơ sở giáo dục còn khó khăn. Đối với lộ trình số hóa dữ liệu học bạ, cần quy định rõ hơn theo hướng thực hiện từng bước, ưu tiên học sinh tuyển mới và học sinh các lớp đầu cấp như lớp 1, lớp 6 và lớp 10. Riêng việc số hóa dữ liệu học bạ giấy đã tồn tại nhiều năm cần có lộ trình phù hợp, cho phép các địa phương miền núi triển khai theo từng giai đoạn thay vì áp dụng cùng một thời hạn hoàn thành trên phạm vi toàn quốc, qua đó tránh gây áp lực quá lớn về nhân lực và bảo đảm chất lượng dữ liệu khi thực hiện.
Chia sẻ từ thực tiễn triển khai chuyển đổi số tại nhà trường, ông Đinh Tiến Hoàng - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc bán trú THCS Nậm Cắn (xã Nậm Cắn, tỉnh Nghệ An) cho biết, khó khăn hiện nay chủ yếu là hạ tầng công nghệ ở một số địa phương chưa đồng đều; kỹ năng số của một bộ phận giáo viên còn hạn chế; nguy cơ sai sót dữ liệu và vấn đề bảo mật thông tin cũng cần được đặc biệt quan tâm.
Ông Đinh Tiến Hoàng mong muốn Bộ GD&ĐT tiếp tục hoàn thiện hệ thống phần mềm thống nhất, tăng cường tập huấn cho giáo viên, có lộ trình triển khai phù hợp giữa các vùng miền; đồng thời ban hành quy định rõ ràng về bảo mật, lưu trữ và trách nhiệm cập nhật dữ liệu nhằm bảo đảm tính an toàn, chính xác và đồng bộ trên toàn quốc.
Để quy định mới sớm đi vào cuộc sống, ông Lê Văn Hòa đề xuất cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm như đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và chuẩn hóa dữ liệu trên phạm vi toàn quốc; giải quyết bài toán kinh phí và cấp miễn phí chữ ký số cho giáo viên; tăng cường tập huấn thực hành gắn với giảm tải hồ sơ, chấm dứt tình trạng tồn tại song song hồ sơ giấy và hồ sơ số; đẩy mạnh tuyên truyền để phụ huynh, học sinh tiếp cận và sử dụng hiệu quả học bạ số; đồng thời siết chặt các yêu cầu về an toàn thông tin, bảo đảm mọi thay đổi dữ liệu đều được lưu vết, truy xuất và kiểm soát đầy đủ.
Từ góc độ triển khai thực tế, có thể thấy, học bạ số không đơn thuần là một phần mềm mà là sự thay đổi trong tư duy và phương thức quản lý giáo dục. Yếu tố quan trọng nhất là phải để giáo viên cảm nhận công nghệ đang hỗ trợ, giải phóng sức lao động thay vì tạo thêm áp lực trong công việc hằng ngày”, ông Lê Văn Hòa cho hay.