Đời sống cộng đồng

Từ bản làng đến lựa chọn nghề nghiệp của người trẻ vùng khó

06/10/2026 21:37

Từ Phú Thọ đến Tuyên Quang, học nghề đang mở thêm lựa chọn để người trẻ vùng khó trang bị kỹ năng, tìm việc làm và chủ động hơn với tương lai.

Sinh viên Trường CĐ Cơ khí nông nghiệp (CAM) tại xưởng thực hành của nhà trường.
Sinh viên Trường CĐ Cơ khí nông nghiệp (CAM) tại xưởng thực hành của nhà trường.

Lựa chọn nghề gắn với tương lai

Với nhiều người trẻ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, lựa chọn con đường sau phổ thông không chỉ là câu chuyện tiếp tục học ở đâu. Điều các em và gia đình quan tâm còn là học nghề gì, chi phí ra sao và sau khi tốt nghiệp có thể tìm được một công việc phù hợp hay không.

Tại Phú Thọ, theo thống kê của ngành Giáo dục, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn hiện có 8.205 học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số, chiếm 27% tổng số người học. Phía sau con số này là những người trẻ có xuất phát điểm khác nhau, trong đó nhiều em đến từ vùng sâu, vùng xa, gia đình sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp hoặc những công việc có thu nhập chưa ổn định.

Đáng chú ý, một bộ phận thanh thiếu niên dân tộc thiểu số từ 15 đến 18 tuổi có xu hướng rời trường sớm để tham gia thị trường lao động tự do do áp lực kinh tế gia đình. Thu nhập trước mắt có thể giúp giải quyết một phần khó khăn, nhưng thiếu kỹ năng nghề cũng khiến người lao động gặp bất lợi khi tìm kiếm công việc ổn định và nâng cao thu nhập về lâu dài.

Bởi vậy, cùng với chính sách hỗ trợ người học, ngành Giáo dục Phú Thọ đang đẩy mạnh hướng nghiệp, đào tạo nghề kỹ thuật, nghề phi nông nghiệp và thực hiện hỗ trợ chi phí sinh hoạt đối với những trường hợp thuộc diện thụ hưởng. Mục tiêu không chỉ là giúp người trẻ tiếp tục học mà còn tạo điều kiện để các em có kỹ năng trước khi bước vào thị trường lao động.

b4.jpg
Thực hành tại xưởng giúp sinh viên CAM vững nghề ngay khi ra trường.

Tại Tuyên Quang, giáo dục nghề nghiệp cũng được đặt trong bài toán tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Theo kế hoạch tuyển sinh, đào tạo giáo dục nghề nghiệp năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tuyển sinh, đào tạo trình độ cao đẳng và trung cấp cho 2.095 người; đồng thời đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng cho 8.711 lao động nông thôn theo phương thức đặt hàng. Các ngành nghề được lựa chọn theo nhu cầu thị trường lao động, tuyển dụng của doanh nghiệp và điều kiện phát triển từng địa phương.

Đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Tuyên Quang hướng tới các nhóm nghề gắn với sản xuất nông nghiệp, sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng, làng nghề và dịch vụ tại địa phương; phấn đấu trên 85% lao động sau đào tạo có việc làm hoặc tự tạo việc làm. Tỉnh đồng thời yêu cầu tăng kết nối giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp từ tuyển sinh, đào tạo, thực hành, thực tập đến giải quyết việc làm.

Định hướng này được nối từ giáo dục phổ thông khi Tuyên Quang đặt mục tiêu 80% thanh thiếu niên trong độ tuổi tiếp tục học tập ở các chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên hoặc giáo dục nghề nghiệp.

Với những gia đình còn khó khăn, để một người trẻ đi hết con đường học nghề, chi phí vẫn là vấn đề phải tính đến. Đằng Thị Mai Thanh, quê Sơn Thủy, Tuyên Quang, từng cân nhắc điều này khi quyết định theo học tại Trường Cao đẳng nghề Việt – Xô số 1.

Gia đình chủ yếu làm nông nghiệp nên ngoài lựa chọn ngành học, tiền học, chỗ ở và sinh hoạt khi xa nhà đều là những khoản phải tính toán. Thanh từng chia sẻ mong muốn học được một nghề để sau này sớm đi làm, nhưng nếu tiền học và tiền ở quá lớn thì gia đình sẽ rất vất vả.

Những chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ sinh hoạt, ký túc xá hay học bổng vì thế có ý nghĩa trong việc giảm bớt rào cản ban đầu. Tuy nhiên, với người học và gia đình, điều quan trọng hơn vẫn là nghề đã chọn có thể dẫn tới một công việc và nguồn thu nhập sau đào tạo.

Có nghề để thêm lựa chọn việc làm

Nếu câu chuyện của Thanh cho thấy những trở ngại khi người trẻ vùng khó bước vào trường nghề, lựa chọn của Đinh Văn Nhân lại cho thấy một nghề kỹ thuật có thể mở rộng lựa chọn việc làm so với những sinh kế vốn quen thuộc ở quê nhà.

b6.jpg
Đinh Văn Nhân chia sẻ thông tin với Báo Giáo dục và Thời đại.

Nhân sinh năm 2007, người dân tộc Mường, quê Bản Giày, xã Gia Phù, tỉnh Sơn La. Từ trung tâm xã về nơi gia đình em sinh sống khoảng 20km, đường sá đi lại còn khó khăn. Người dân địa phương chủ yếu làm nông nghiệp, một số hộ trồng tre lấy măng và lá để có thêm thu nhập.

Sau phổ thông, Nhân lựa chọn ngành Tự động hóa tại Trường Cao đẳng Cơ khí Nông nghiệp, xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ. Hiện em là sinh viên năm thứ hai.

“Em chọn ngành Tự động hóa vì bản thân yêu thích và cũng được bố mẹ định hướng. Bố em đang làm việc tại nhà máy thủy điện nên em hiểu những kiến thức về điện, điều khiển và tự động hóa có thể ứng dụng nhiều trong công việc thực tế”, Nhân chia sẻ.

Trong quá trình học, Nhân được tiếp cận robot công nghiệp, hệ thống điều khiển, công nghệ Vision và thiết bị phục vụ đào tạo tự động hóa. Những công nghệ khá xa lạ với sinh kế nông nghiệp ở bản làng lại đang trở thành hành trang để nam sinh chuẩn bị cho dự định nghề nghiệp của mình.

Sau khi tốt nghiệp, Nhân mong muốn trở về Sơn La, tìm công việc phù hợp tại một nhà máy thủy điện gần quê.

“Em mong sau khi tốt nghiệp có thể xin vào một nhà máy thủy điện gần nhà. Nếu được làm đúng ngành đã học, em vừa có thu nhập ổn định, vừa được ở gần gia đình và có thể đóng góp một phần cho quê hương”, Nhân nói.

Mong muốn của Nhân cũng cho thấy học nghề không nhất thiết đồng nghĩa với việc người trẻ vùng khó phải rời quê để tìm cơ hội tại những đô thị hay khu công nghiệp lớn. Nếu ngành học phù hợp với nhu cầu nhân lực và điều kiện phát triển của địa phương, kỹ năng nghề có thể trở thành vốn để các em tìm việc tại quê hương hoặc chủ động bước vào những thị trường lao động rộng hơn.

Tuy nhiên, từ học được nghề đến làm được việc vẫn còn một khoảng cách. Bà Nguyễn Thị Liên, Giám đốc Công ty TNHH Power Group Việt Nam, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tuyển dụng, cung ứng lao động, cho rằng thị trường ngày càng coi trọng khả năng làm việc thực tế.

Theo bà Liên, bên cạnh tay nghề, doanh nghiệp còn quan tâm đến ý thức kỷ luật, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, khả năng thích nghi và tinh thần học hỏi. Việc trường nghề kết nối với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ hơn yêu cầu của từng vị trí việc làm và có sự chuẩn bị trước khi tốt nghiệp.

Điều này càng có ý nghĩa với người học xuất phát từ vùng khó. Chính sách hỗ trợ có thể giúp các em bước vào trường và giảm áp lực trong quá trình học, nhưng giá trị lâu dài của giáo dục nghề nghiệp chỉ thực sự được thể hiện khi kỹ năng được chuyển thành năng lực làm việc và nguồn thu nhập.

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/tu-ban-lang-den-lua-chon-nghe-nghiep-cua-nguoi-tre-vung-kho-post795167.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/tu-ban-lang-den-lua-chon-nghe-nghiep-cua-nguoi-tre-vung-kho-post795167.html
Bài liên quan
Cánh cửa việc làm rộng mở với học sinh vùng khó
Học nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp đang mở thêm cơ hội việc làm cho học sinh vùng khó.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Từ bản làng đến lựa chọn nghề nghiệp của người trẻ vùng khó