Từ một Hoàng giáp nổi danh khoa bảng dưới triều Tự Đức, Nguyễn Quang Bích lựa chọn con đường dấn thân, trở thành thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào Cần Vương.

Nguyễn Quang Bích (1832 - 1890), còn có tên là Ngô Quang Bích, hiệu Ngư Phong, quê làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định; sau thuộc làng Trình Nhất, xã An Ninh, huyện Tiền Hải (nay là xã Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên). Ông là người đỗ đầu khoa Kỷ Tỵ (1869) với học vị Đình nguyên Hoàng giáp, từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, danh tiếng của ông không chỉ gắn với con đường khoa bảng và quan trường, mà còn được ghi nhớ trong vai trò thủ lĩnh phong trào Cần Vương, lẫy lừng cả về võ công lẫn văn nghiệp.
Theo sử liệu và gia phả, Nguyễn Quang Bích thuộc dòng dõi Ngô Vương Quyền. Tuy nhiên, cách Nguyễn Quang Bích bốn đời, dòng họ đã di cư về vùng đất nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Do tổ tiên đổi sang họ ngoại là họ Nguyễn để tri ân công ơn dưỡng dục, nên trong sử sách và dân gian thường gọi Ngô Quang Bích là Nguyễn Quang Bích. Ngoài ra cũng tồn tại một số giả định như được ban quốc tính hoặc đổi họ để thuận lợi cho việc đi thi, nhưng không có bằng chứng.
Nguyễn Quang Bích chọn hiệu là Ngư Phong cũng ẩn chứa nỗi niềm của người con cả đời xa quê. Ngư Phong là tên một ngọn đồi ở quê ông, còn gọi nôm là gò Chài - nơi cửa biển, chốn những người dân chài sau chuyến ra khơi thường dừng chân nghỉ ngơi, phơi chài lưới. Nguyễn Quang Bích chọn danh xưng Ngư Phong như một cách gửi gắm nỗi nhớ quê, nhất là từ ngày rời làng đi thi, hầu như ông không còn cơ hội trở về nơi chôn nhau cắt rốn.
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Quang Bích đã nổi tiếng thông minh, học giỏi nhất vùng và là học trò của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị. Năm 1858 ông đỗ Tú tài, sau đó khi Phạm Văn Nghị chuyển sang giữ chức Thương biện Hải Dương - Hải Phòng, Nguyễn Quang Bích tiếp tục theo học Tiến sĩ Doãn Khuê.
Năm 1861, ông đỗ Cử nhân và được bổ nhiệm làm Giáo thụ phủ Trường Khánh, Ninh Bình. Tuy nhiên, ông dâng sớ xin không nhận chức, ở nhà tiếp tục dùi mài kinh sử và mở trường dạy học. Đến khoa Kỷ Tỵ (1869), dưới triều vua Tự Đức, ông tiếp tục ứng thí và đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ Đình nguyên (Hoàng giáp).
Buổi lễ nhậm chức của Nguyễn Quang Bích khá đặc biệt. Theo thông lệ, những người đỗ đạt sẽ được vua ban thưởng và cho phép dâng biểu tâu bày những nguyện vọng riêng, như xin phong tước cho cha mẹ hoặc ban ân cho quê hương. Riêng Ngô Quang Bích không xin nhận bất kỳ ân thưởng nào, mà dâng chiếu biểu lên vua để bày tỏ lòng trung quân và chí hướng của mình.
Trong đó, ông nguyện được làm “chim ưng” để diệt trừ “loài ô thước” - hình ảnh ẩn dụ mà ông dùng để chỉ quân xâm lược, qua đó công khai thể hiện tư tưởng kháng Pháp. Cũng trong bản chiếu biểu này, ông còn trình bày những kế sách về dùng người và nhấn mạnh tư tưởng “trọng dân”, vượt lên trên quan niệm “thân dân”, “thương dân” vốn quen thuộc đương thời.
Sau khi vinh quy bái tổ, Nguyễn Quang Bích được bổ nhiệm làm Tri phủ Lâm Thao (Phú Thọ), sau đó chuyển giữ chức Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa). Tiếp đó, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Án sát tỉnh Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử Giám Huế và Án sát Bình Định.
Năm Ất Hợi (1875), ông được vua Tự Đức giao trọng trách tham gia duyệt bộ sách “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục”. Hai năm sau, khi triều đình mở doanh điền ở Hưng Hóa nhằm vừa khai khẩn đất đai vừa tăng cường phòng vệ vùng núi rừng Tây Bắc, Nguyễn Quang Bích được cử giữ chức Chánh sơn phòng sứ.

Năm 1876, Nguyễn Quang Bích được cử kiêm nhiệm chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa, bao gồm vùng Phú Thọ và Yên Bái. Tại đây, ông phối hợp với Tôn Thất Thuyết và Hoàng Tá Viêm tổ chức đánh dẹp, thực hiện chủ trương lôi kéo, phân hóa các đội quân người Trung Quốc mà sử cũ gọi là “giặc khách”. Đáng chú ý, trong số những lực lượng được Nguyễn Quang Bích cảm hóa có Lưu Vĩnh Phúc - thủ lĩnh quân Cờ Đen.
Cũng trong thời kỳ này, Nguyễn Quang Bích chủ trương tổ chức các đội dân binh rộng khắp vùng Tây Bắc nhằm chống lại các toán giặc Cờ Trắng và Cờ Vàng. Tiêu biểu trong số đó có các thủ lĩnh địa phương như Sa Văn Nội ở Mộc Châu, Nông Văn Quang ở Văn Chấn, Cầm Hánh và Cầm Tám ở Nghĩa Lộ, cùng Đèo Văn Toa, Đèo Văn Trì, Cầm Bun Hoan tại khu vực Lai Châu – Điện Biên. Mỗi đội quân có lực lượng từ khoảng 400 đến hơn 1.000 tay súng, trở thành nòng cốt cho phong trào kháng Pháp ở vùng thượng du Bắc Kỳ.
Năm 1883, lợi dụng tình hình đất nước rối ren, nhà Thanh điều hai binh đoàn với hàng chục vạn quân do các tướng Hoàng Quế Lan và Triệu Ốc chỉ huy tiến vào nước ta. Trước nguy cơ đó, Nguyễn Quang Bích dâng sớ tâu vua, bày tỏ sự lo ngại nhưng lại bị vua Tự Đức trách “đem bụng tiểu nhân đo lòng quân tử”.
Không nản lòng, ông tiếp tục dâng sớ phân tích và chỉ rõ những hành vi thực tế của các đội quân nhà Thanh khi vào nước ta, nhằm vơ vét của cải và mưu toan chia đất với thực dân Pháp. Chỉ đến lúc ấy, triều đình mới nhận rõ bản chất vấn đề, vua Tự Đức mới hạ lệnh buộc quân Thanh phải rút về nước.
Nguyễn Quang Bích cũng là người kiên quyết phản đối đường lối thỏa hiệp với thực dân Pháp của triều đình nhà Nguyễn, tiêu biểu là Hiệp ước Quý Mùi (25/8/1883). Năm 1884, khi ông đang giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa, quân Pháp huy động hơn 7.000 binh lính, có pháo binh và tàu chiến yểm trợ, tiến công Hưng Hóa - thủ phủ cuối cùng của triều Nguyễn ở Bắc Kỳ.
Trong bối cảnh triều đình đã ký Hòa ước Patenôtre (Hòa ước Giáp Thân 1884) và ra lệnh triệu hồi ông về kinh, Nguyễn Quang Bích sai người nộp trả ấn tín, kiên quyết không tuân lệnh, lựa chọn ở lại tử thủ, thể hiện rõ khí phách của một vị quan yêu nước, sẵn sàng hy sinh để giữ đất, giữ thành.

Sau khi thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích phá vòng vây, đưa quân rút lên Tiên Động (Phú Thọ) và dựng cờ khởi nghĩa. Trong lễ tế cờ, ông đọc hai câu thơ như lời tuyên ngôn bất hủ, khẳng định ý chí cứu nước và niềm tin son sắt vào tương lai dân tộc: “Việt quốc thiên thu nguyên bất dịch/ Lạc hồng tiên chủng phục hoàn tô” (Giữ gìn nước Việt ngàn năm không đổi/ Nòi giống Lạc Hồng sẽ phục dựng lại thắm tươi).
Năm 1885, khi vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp, triều đình đồng thời ban dụ khai phục và thăng chức cho các quan văn võ ở Bắc Kỳ. Trong đó, Nguyễn Quang Bích được phong Thượng thư bộ Lễ, sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ.
Trên cương vị mới, ông tập trung củng cố và điều động lực lượng, xây dựng căn cứ kháng chiến mới tại Nghĩa Lộ, tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh chống Pháp ở miền thượng du Bắc Kỳ. Với uy tín của mình, Nguyễn Quang Bích vừa trực tiếp chỉ huy phong trào kháng chiến, vừa phối hợp với các cuộc nổi dậy và lực lượng khác do các sĩ phu, tù trưởng địa phương lãnh đạo như Cầm Hánh, Bố Giáp, Cầm Văn Hoan, Cầm Văn Thanh. Dưới sự quy tụ ấy, đông đảo nhân dân các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Dao, Mông… cùng tham gia, tạo nên mặt trận kháng Pháp rộng khắp ở vùng thượng du.
Trong hai năm 1885 - 1886, vua Hàm Nghi hai lần cử Nguyễn Quang Bích sang Trung Quốc cầu viện. Tuy nhiên, các chuyến đi đều không đạt kết quả do triều đình nhà Thanh đã lựa chọn con đường thỏa hiệp với Pháp. Dù vậy, Nguyễn Quang Bích vẫn nhận được sự hỗ trợ riêng từ một số quan lại miền Nam Trung Quốc, gồm khoảng 600 khẩu súng, 60 hòm đạn...
Nguyễn Quang Bích cử Lãnh Hoan cùng Nguyễn Cao vào Quảng Bình để đón vua Hàm Nghi, nhưng không may Nguyễn Cao bị quân Pháp bắt giữ; ngay sau đó, vua Hàm Nghi cũng rơi vào tay địch và bị đày sang châu Phi. Trước tình thế ấy, thực dân Pháp điều hai binh đoàn tiến đánh Nghĩa Lộ. Trước tương quan lực lượng bất lợi, Nguyễn Quang Bích chủ động cho quân rút về châu Yên Lập, xây dựng căn cứ Tôn Sơn, từ đó tiếp tục chỉ đạo phong trào kháng chiến trên toàn Bắc Kỳ và tổ chức nhiều trận đánh giành thắng lợi.

Sau nhiều lần thất bại, Pháp chuyển sang thủ đoạn dụ hàng, một mặt gửi thư hứa hẹn sẽ chu cấp hậu hĩnh, mặt khác cho quân về quê Nguyễn Quang Bích đốt phá xóm làng, bắt giam mẹ già nhằm uy hiếp buộc ông ra hàng. Trước những thủ đoạn ấy, Nguyễn Quang Bích viết thư đáp lại với lời lẽ đanh thép, thể hiện trọn vẹn ý chí bất khuất: “Nếu thắng mà sống thì là nghĩa sĩ của triều đình, chẳng may thua mà chết cũng làm quỷ thiêng giết giặc! Thà chịu “tội” với nhất thời, quyết không mắc tội với vạn thế!”.
Từ căn cứ này, Nguyễn Quang Bích đã phái nhiều đạo quân tiến công, đánh phá ở nhiều địa bàn, bước đầu thu được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, khi sự nghiệp kháng chiến đang trên đà phát triển, ông bất ngờ lâm bệnh nặng và qua đời tại núi Tôn Sơn (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) vào ngày 24/1/1890.
Nguyễn Quang Bích qua đời nhưng phong trào kháng Pháp của các dân tộc Tây Bắc do ông lãnh đạo vẫn không bị dập tắt hoàn toàn. Các tướng lĩnh dưới trướng ông vẫn duy trì nhiều trận đánh gây cho địch nhiều tổn thất vào mấy năm sau đó.
Theo giới nghiên cứu lịch sử, trong suốt thời gian làm quan, Nguyễn Quang Bích luôn được đánh giá là vị quan thanh liêm, đức độ nên nhận được sự kính trọng, yêu mến của người dân các nơi. Thậm chí ông còn được tôn xưng là “hoạt Phật”, Phật sống. Không chỉ nổi bật về tài thao lược, ông còn là người giỏi thu phục nhân tâm, tiêu biểu là việc cảm hóa một số “tướng giặc khách” như Lưu Vĩnh Phúc.
Lưu Vĩnh Phúc vốn là một tướng “giặc khách” người Trung Quốc, nổi tiếng hung hãn, từng đem quân sang quấy phá vùng biên giới phía Bắc, lực lượng này thường được gọi là “giặc Cờ Đen”. Nhận rõ vai trò của nhân vật này, Nguyễn Quang Bích đã cho mời Lưu Vĩnh Phúc đến bản phủ, tổ chức thiết đãi tiệc rượu và dùng nhiều cách thức, lời lẽ khéo léo để trao đổi, thuyết phục.
Nguyễn Quang Bích biết Lưu Vĩnh Phúc từng là học trò của Lý Phúc - một người bạn mà ông quen biết, kết giao trong những lần được triều đình cử đi sứ. Giữa Nguyễn Quang Bích và Lý Phúc vốn có thâm tình, từng được Lý Phúc tặng thanh kiếm quý. Khi Lưu Vĩnh Phúc trông thấy kỷ vật của sư phụ, lại hiểu rõ về con người và chí hướng của Nguyễn Quang Bích nên dần bị thuyết phục và quy phục.
Không chỉ là vị tướng tài, Nguyễn Quang Bích còn để lại nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị, góp phần làm phong phú kho tàng văn học yêu nước. Thơ văn của ông thấm đẫm tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm với vận mệnh đất nước và tư tưởng trọng dân sâu sắc.
Nguyễn Quang Bích có ba tập thơ mang tên “Ngư Phong thi tập”, song hiện nay chỉ còn lưu giữ tập thứ ba, được sáng tác vào năm 1885, gồm hơn 100 bài. Về văn xuôi, ông để lại ba tác phẩm tiêu biểu: “Văn sách thi đình”, bức thư trả lời thực dân Pháp, và tác phẩm “Tự tình” viết trước lúc qua đời, được GS. Trần Huy Liệu dịch.
Sau khi Nguyễn Quang Bích qua đời, nhiều làng quê ở miền Bắc lập đền thờ, trong đó, có đền thờ tại khu căn cứ Tiên Động, nay thuộc xã Tiên Lương, tỉnh Phú Thọ. Năm 1999, khu căn cứ Tiên Động được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Từ đó đến nay, nơi đây trở thành địa điểm tham quan giàu ý nghĩa lịch sử, là không gian tưởng niệm và tôn vinh công lao to lớn của tướng quân Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích cùng các nghĩa sĩ.