Từ một Cử nhân xuất thân khoa bảng, Doãn Uẩn trở thành vị tướng mưu lược nơi biên cương và được khắc tên trên cỗ “Thần uy phục viễn đại tướng quân”

Từ chốn bút nghiên đến chiến trường Trấn Tây khốc liệt, Doãn Uẩn được phong hiệu “An Tây mưu lược tướng”, ghi danh không chỉ trên kim loại đồng hun mà còn trong lịch sử bằng tài thao lược, đức thanh liêm, sự tận tụy và tấm lòng vì nước vì dân.
Doãn Uẩn sinh ngày 17 tháng 11 năm Ất Mão (1795) tại làng Khê Cầu, tổng Khê Cầu, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc xã Vũ Thư, tỉnh Hưng Yên). Nguyên quán của ông ở làng Ngoại Lãng, tổng Vô Ngại, huyện Thư Trì.
Ông là con trưởng của danh sĩ Doãn Đình Dụng (hiệu Lãng Khê) và bà Nguyễn Thị Tào, thuộc dòng họ Doãn đất Song Lãng, hậu duệ đời thứ năm tính từ thủy tổ Doãn Doanh, hiệu Chính Nghị. Tiến sĩ Doãn Khuê là em họ (con chú ruột) của ông.
Từ nhỏ, Doãn Uẩn (tên thuở nhỏ là Ôn) được nuôi dạy trong môi trường gia đình khoa bảng, được cha và các chú bác trực tiếp rèn cặp. Năm 19 tuổi, ông theo học Hoàng giáp Bùi Huy Bích, một danh sĩ có uy tín. Tuy nhiên, năm 20 tuổi, cha qua đời, gia cảnh trở nên khó khăn, song ông vẫn bền chí học hành. Đến năm 29 tuổi, ông cùng gia đình rời Khê Cầu về sinh sống tại Ngoại Lãng.
Trên con đường khoa cử, Doãn Uẩn từng hai lần đỗ tú tài. Đến khoa thi Mậu Tý năm Minh Mạng thứ 9 (1828), ông thi đỗ Cử nhân hạng ưu. Năm sau (1829), ông tiếp tục dự thi Hội nhưng không đỗ. Cũng trong năm này, ông được bổ làm Điển bạ Hàn lâm viện, chính thức bước vào con đường quan trường. Trong quá trình làm quan, ông được vua Minh Mạng đổi tên từ Ôn thành Uẩn; tự ban đầu là Ôn Phủ, sau đổi thành Nhuận Phủ; hiệu Nguyệt Giang rồi đổi thành Tinh Trai.
Cử nhân Doãn Uẩn là một trong những đại thần tiêu biểu của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ 19, hội tụ đầy đủ phẩm chất của một “văn võ toàn tài”, với sự nghiệp kéo dài gần hai thập niên, kinh qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Cuộc đời làm quan của ông không chỉ là chuỗi thăng tiến chức tước, mà còn là hành trình liên tục dấn thân vào những vùng đất khó khăn, những điểm nóng quân sự - chính trị của đất nước, nơi đòi hỏi trí tuệ, bản lĩnh và lòng nhân từ.
Khởi đầu từ cuối năm 1829 với chức Điển bạ Hàn lâm viện, Doãn Uẩn từng bước khẳng định năng lực và được trọng dụng. Năm 1831, ông được thăng Viên ngoại lang Bộ Hộ. Chỉ một năm sau, ông được điều vào Nam giữ chức Án sát Vĩnh Long, đúng vào thời điểm bùng nổ cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi - một biến cố lớn làm rung chuyển toàn bộ Nam Kỳ.
Trong cơn binh biến, khi thành Vĩnh Long thất thủ, Doãn Uẩn không chọn cách “tử thủ” mang tính hình thức, mà chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Ông ẩn mình trong dân, bí mật chiêu tập nghĩa dũng, chờ thời cơ phản công. Khi nội bộ quân giữ thành rối loạn, ông chỉ với khoảng 300 quân đã bất ngờ đánh chiếm lại thành.
Cách hành xử ấy thể hiện rõ một tư duy quân sự sắc sảo, lấy mưu lược thay cho liều lĩnh, đặt hiệu quả và sinh mạng quân dân lên trên danh nghĩa cá nhân. Sau đó, ông phối hợp với các danh tướng như Trương Minh Giảng tham gia chiến dịch lớn đánh dẹp lực lượng nổi dậy và chống quân Xiêm xâm nhập.

Không chỉ giỏi đánh trận, Doãn Uẩn còn nổi bật ở năng lực “hậu chiến”. Sau khi vùng Vĩnh Long được thu phục, ông ở lại ổn định dân tình, thực thi chủ trương hòa hợp, vỗ yên dân chúng. Khi vua Chân Lạp Ang Chan II chạy sang lánh nạn, chính ông là người trực tiếp tổ chức tiếp đón, bảo hộ và sau đó hộ tống về nước, thể hiện vai trò ngoại giao mềm dẻo trong hoàn cảnh khu vực đầy phức tạp.
Năm 1834, ông được điều ra Bắc làm Án sát Thái Nguyên để đối phó với cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân. Tại đây, một lần nữa Doãn Uẩn cho thấy triết lý trị loạn nhất quán “an dân trước, dụng binh sau”. Ông trực tiếp đi vào các vùng rối ren như Bạch Thông, Cảm Hóa, vỗ về dân chúng, khôi phục sản xuất, khiến lòng người ổn định, từ đó thế lực nổi dậy tự tan rã. Những tấu sớ của ông nhấn mạnh rằng, chỉ khi dân được yên thì sự ổn định mới bền vững, đó là tư tưởng tiến bộ vượt lên trên lối cai trị thuần túy bằng bạo lực.
Từ Thái Nguyên đến Thanh Hóa, rồi vào Bình Định thực hiện chính sách quân điền, Doãn Uẩn luôn thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “trị” và “dưỡng”. Trong việc chia ruộng đất ở Bình Định, ông cùng các đồng liêu chủ trương điều tiết hợp lý, bảo vệ người nghèo, nhờ đó tránh được biến động. Điều này cho thấy, ông không chỉ là tướng lĩnh mà còn là một nhà quản trị xã hội có tầm nhìn.
Bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Doãn Uẩn là giai đoạn hoạt động tại biên giới Tây Nam, đặc biệt ở Trấn Tây (Cao Miên). Từ năm 1840, ông được cử làm Phó Khâm sai, rồi Bang biện đại thần, tham gia trực tiếp vào cuộc đối đầu kéo dài giữa Đại Nam và Xiêm. Khi tình hình trở nên căng thẳng, ông được điều làm Tuần phủ An Giang (1844) - vị trí phên dậu của quốc gia.
Trước khi lên đường, vua Thiệu Trị đã căn dặn ông bằng hình ảnh của Gia Cát Lượng, kỳ vọng ở tài thao lược và tầm nhìn chiến lược: “Đất An Giang là nơi trọng yếu ở biên thùy, lại giáp giới nước Xiêm La, tính toán việc quân thật hệ trọng không phải việc nhỏ. Ngươi được Trẫm kén dùng vì tuổi đang sung sức lại có tài, gặp việc gì Ngươi cũng nên cùng Tổng đốc An Hà Nguyễn Tri Phương nhất tâm luận bàn thực hiện để xứng với trách nhiệm Trẫm ủy thác. Thời trước, Gia Cát Lượng không phải trận nào cũng đi đến được thế mà tính toán toàn cục không sót một ly, đi đến đâu cũng không ai địch nổi. Ngươi có học vấn, có mưu lược hãy cố gắng lên”.
Tại An Giang, Doãn Uẩn cùng Tổng đốc Nguyễn Tri Phương vừa chăm lo hậu cần, xin giảm thuế cho dân, vừa chủ động chuẩn bị quân sự. Năm 1845, ông trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh then chốt tại Sách Sô, Thiết Thằng, tiến đến Nam Vang, phối hợp đánh tan lực lượng Xiêm và buộc đối phương phải giảng hòa. Những chiến công này không chỉ mang ý nghĩa quân sự mà còn góp phần xác lập thế ổn định lâu dài cho vùng biên.

Với công lao ấy, Doãn Uẩn được phong Thượng thư Bộ Binh, Tổng đốc An – Hà, tước Tuy Tĩnh tử, và đặc biệt được ban danh hiệu “An Tây mưu lược tướng” – một sự ghi nhận hiếm có. Tên ông được khắc trên thần công và bia Võ miếu, đặt ngang hàng với những công thần hàng đầu. Nhưng điều đáng nói hơn, sau chiến thắng, ông không sa vào hào quang chiến công mà tiếp tục dồn sức “an dân” bằng việc miễn giảm thuế, ổn định đời sống, thậm chí xây dựng chùa Tây An dưới chân núi Sam như một điểm tựa tinh thần cho cư dân vùng biên.
Bên cạnh sự nghiệp chính trị, quân sự, Doãn Uẩn còn là một tác giả có giá trị với các tác phẩm như “Trấn Tây kỷ lược”, “Tuy Tĩnh tử tạp ngôn”… góp phần phản ánh sinh động lịch sử, địa lý và đời sống phương Nam. Ông cũng nhiều lần được giao làm chủ khảo các trường thi lớn, cho thấy vị thế học vấn và uy tín trong giới trí thức đương thời.
Điều đặc biệt làm nên tầm vóc Doãn Uẩn không chỉ là công trạng, mà còn là nhân cách. Ông nổi tiếng thanh liêm, không màng lợi lộc. Trong một lần triều đình yêu cầu tiến cử nhân tài, hầu hết các quan đều bỏ trống vì e ngại, chỉ có một người dám đề cử Doãn Uẩn. Dù đó chỉ là một chi tiết nhỏ, nhưng cho thấy uy tín và sự trong sạch của ông trong mắt đồng liêu.
Ngày 21 tháng 11 năm Kỷ Dậu (1850), Doãn Uẩn qua đời tại An Giang khi đang tại chức, hưởng thọ 56 tuổi. Vua Tự Đức truy tặng ông hàm Hiệp biện Đại học sĩ, cho thờ tại đền Hiền Lương. Nhân dân nhiều nơi, từ quê hương Bắc Bộ đến vùng đất Nam Bộ, đều lập đền thờ, ghi nhớ công lao của ông.

Theo đánh giá của giới nghiên cứu lịch sử, Doãn Uẩn là hình mẫu tiêu biểu của một vị quan thời Nguyễn, vừa là nhà quân sự mưu lược, nhà hành chính hiệu quả, vừa là người hiểu dân, thương dân. Suốt cuộc đời, ông gắn bó với những vùng đất gian khó nhất, góp phần quan trọng vào việc giữ vững cương vực và ổn định xã hội. Di sản ông để lại không chỉ là chiến công, mà còn là một triết lý trị quốc sâu sắc “muốn bền vững phải bắt đầu từ lòng dân”.
Với những đóng góp to lớn trong việc dẹp loạn, giữ yên biên cương và ổn định đời sống nhân dân, Doãn Uẩn được triều đình nhà Nguyễn đặc biệt ghi nhận. Dưới triều Thiệu Trị, ông được thăng đến chức Thượng thư Bộ Binh, giữ cương vị Tổng đốc An - Hà, hàm chính Nhị phẩm, và được phong tước Tuy Tĩnh tử. Đặc biệt, ông được ban danh hiệu “An Tây mưu lược tướng”, ghi nhận vai trò nổi bật trong các chiến dịch bình định Trấn Tây và bảo vệ biên giới Tây Nam.
Tên tuổi Doãn Uẩn còn được khắc vào các cỗ thần công do triều đình đúc năm 1847. Về việc này, sử liệu chép rằng, tháng 7 năm Đinh Mùi (1847), vua Thiệu Trị cho đúc 12 cỗ thần công (gồm 3 cỗ thần công thượng tướng quân, 9 cỗ thần công đại tướng quân). Ông được phong hiệu là “An Tây mưu lược tướng” và được khắc tên vào cỗ đại tướng quân thứ nhất “Thần uy phục viễn đại tướng quân”.

Không chỉ vậy, Doãn Uẩn cũng nằm trong số các đại thần được triều đình chuẩn y khắc bia công trạng tại Võ miếu Huế, cùng với những danh tướng hàng đầu đương thời như Nguyễn Tri Phương, Vũ Văn Giải.
Sau khi qua đời (1850), vua Tự Đức truy tặng ông hàm Hiệp biện Đại học sĩ, cấp tiền tuất và tổ chức an táng theo nghi lễ dành cho đại thần có nhiều công lao. Bài vị của ông được đưa vào thờ tại đền Hiền Lương - nơi tôn vinh các công thần tiêu biểu của triều Nguyễn, thể hiện sự đánh giá cao của triều đình đối với nhân cách và sự nghiệp của ông.
Không chỉ được triều đình ghi công, Doãn Uẩn còn được nhân dân nhiều nơi tưởng nhớ. Tại vùng đất An Giang - nơi ông từng trấn nhậm và lập nhiều chiến công, người dân lập đền thờ, lưu truyền những câu ca ngợi về một vị quan “văn võ song toàn, thanh liêm, vì dân vì nước”. Công trình chùa Tây An dưới chân núi Sam do ông cho xây dựng năm 1847 đến nay vẫn là một di tích văn hóa tâm linh nổi bật, gắn liền với tên tuổi ông và chính sách “an dân” nơi biên viễn.
Ở quê hương Hưng Yên, các làng Ngoại Lãng, Khê Cầu cũng lập nơi thờ phụng, ghi nhớ một người con ưu tú của dòng họ. Đến năm 1871, triều đình còn chuẩn y việc lập đền thờ riêng cho ông theo nguyện vọng của dân làng.