Chầu văn giữa nhịp sống hiện đại: Mạch ngầm thiêng trong ký ức văn hóa Việt

Hà Trang 02/02/2026 12:29

Giữa những sân khấu rực sáng của âm nhạc hiện đại, người ta dễ ngỡ các loại hình truyền thống rồi sẽ lùi xa.

Nghệ nhân Thu Thu (hàng dưới, thứ hai từ trái sang) cùng các nghệ nhân hát chầu văn. Ảnh: NVCC.
Nghệ nhân Thu Thu (hàng dưới, thứ hai từ trái sang) cùng các nghệ nhân hát chầu văn. Ảnh: NVCC.

Không ồn ào như những trào lưu âm nhạc thời thượng, chầu văn vẫn âm thầm ngân lên nơi cửa đền, trên sân khấu nhỏ và trong miền ký ức văn hóa của nhiều thế hệ người Việt. Ở đó, tiếng hát không chỉ để thưởng thức, mà còn để phụng thờ; không chỉ là âm thanh, mà là sợi dây kết nối con người với tín ngưỡng thờ Mẫu, với những khát vọng hướng thiện và niềm tin bền bỉ vào điều tốt lành.

“Cầu nối” trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Giữa những sân khấu rực sáng của âm nhạc hiện đại, người ta dễ ngỡ các loại hình truyền thống rồi sẽ lùi xa. Thế nhưng, chầu văn, hay hát văn vẫn bền bỉ hiện diện trong đời sống tâm linh, như một nhịp đập riêng không hòa lẫn.

Nghệ nhân Trần Xuân Thu (nghệ danh Thu Thu) - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hát văn và Hát chầu văn Hà Nội, trực thuộc Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội, chia sẻ: “Hát văn là loại hình nghệ thuật dân gian được lưu truyền từ xa xưa, gắn liền với yếu tố tâm linh rất đặc thù của người Việt - tín ngưỡng thờ Mẫu.

Với tôi, hát văn trước hết là sợi dây kết nối trong thực hành tín ngưỡng, nơi người đi lễ gửi gắm ước vọng, nơi thanh đồng nối liền xưa với nay, và nơi cộng đồng tìm về những giá trị tinh thần lắng sâu trong lớp trầm tích văn hóa”.

Nếu nhìn thuần túy ở góc độ âm nhạc, chầu văn cuốn hút bởi một cấu trúc tổng hòa: tiếng trống, tiếng phách, tiếng đàn hòa quyện cùng lời văn cô đọng; nhịp điệu khi khoan thai, lúc sôi nổi, khi trang nghiêm, lúc rộn ràng. Nhưng chỉ lắng nghe bằng tai thôi, đôi khi người thưởng thức sẽ bỏ lỡ phần “thần” của chầu văn.

“Tính tâm linh là nền tảng cơ bản”, nghệ nhân Thu Thu nhấn mạnh. Bởi hát văn vốn là hát để thờ, để dâng, để phụng hành. Khi tiếng hát cất lên trong canh hầu, đó không còn là một tiết mục biểu diễn đơn thuần, mà trở thành một nghi lễ âm thanh - thứ ngôn ngữ giao cảm giữa con người và cõi thiêng.

Bà Cao Mỹ Hạnh (65 tuổi, Hà Nội) chia sẻ: “Tôi nghe chầu văn đã lâu, nhưng mỗi lần nghe vẫn thấy lòng mình chậm lại. Có điều rất lạ, không cần hiểu hết điển tích, chỉ cần đúng nhịp, đúng phách, đúng cách nhả chữ, là tự nhiên cảm giác ‘đã vào’. Tôi tin đó là vì chầu văn gắn với tín ngưỡng, với niềm tin, nên nghe vừa để giải trí, vừa để tự điều chỉnh tâm mình”.

Những lời nhận xét mộc mạc ấy không mang tính học thuật, nhưng lại chạm đúng bản chất của chầu văn: khả năng tạo dựng một “không gian tinh thần” cho cộng đồng, đặc biệt trong thời buổi con người dễ bị kéo căng bởi những áp lực đời sống thường nhật.

Ở góc độ văn hóa, chầu văn tiêu biểu cho nghệ thuật dân gian không chỉ bởi bề dày lịch sử, mà còn ở sự chắt lọc tinh hoa của tiếng Việt và thẩm mỹ Việt. Lời hát văn sử dụng thơ lục bát và các thể thơ truyền thống, cô đọng mà giàu hình tượng; vừa kể tích, vừa tán dương, vừa khuyến thiện.

Nhiều người trẻ hôm nay có thể đến với chầu văn từ một giai điệu, một đoạn video ngắn, nhưng để ở lại lâu, họ cần bước sâu hơn vào lớp nghĩa của lời văn. Bởi chầu văn không chỉ “nghe hay”, mà còn “đọc hay”, “học hay” và “sống hay”, lặng lẽ dẫn con người hướng tới điều thiện, điều đẹp và sự đúng mực trong đời sống.

chau-van-giua-nhip-song-hien-dai-manh-ngam-thieng-2.jpg
Các nghệ nhân biểu diễn chầu văn tại Lễ Dâng hương tri ân tưởng niệm 233 năm Ngày mất của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Ảnh: NVCC.

28 năm gắn bó với chầu văn

Hành trình đến với chầu văn của nghệ nhân Thu Thu bắt đầu từ nền nếp gia đình và những trải nghiệm nghệ thuật rất sớm. Bà tự nhận mình là “con nhà nòi”: mẹ là tài tử cải lương, nên từ năm, sáu tuổi đã được làm quen với nghệ thuật dân gian.

Thế nhưng, cơ duyên “bén” thật sự lại đến vào năm 1995, khi bà tham gia phong trào nghệ thuật quần chúng của ngành Đường sắt. Khi ấy, đơn vị nảy ra ý tưởng đưa hát văn lên sân khấu hội diễn - một lựa chọn vừa táo bạo, vừa đầy rủi ro trong bối cảnh loại hình này còn chưa phổ biến như hôm nay.

“Bọn mình cũng liều lắm khi đưa bản hát văn Xá Thượng, bây giờ mọi người hay gọi là Cô Đôi Thượng Ngàn, thực ra là bản văn Cô Bé Thượng Ngàn”, nghệ nhân Thu Thu nhớ lại.

Cái “liều” ấy không phải để phô trương, mà là sự dấn thân khi mang một chất liệu mang tính nghi lễ, thấm đẫm yếu tố tâm linh, bước ra khỏi không gian thờ tự để đứng trên sân khấu. Từ năm 1995 đến 1997, nữ nghệ nhân cùng tập thể lần lượt tham gia hội diễn cấp ngành, rồi vươn lên cấp Bộ Giao thông Vận tải và giành giải vàng.

Nhưng với bà, giải thưởng không phải điều quan trọng nhất. Quan trọng hơn là từ khoảnh khắc ấy, giai điệu chầu văn đã ở lại, theo bà suốt những năm tháng sau này, trở thành một mối nhân duyên bền bỉ kéo dài gần ba thập kỷ.

Con đường nghệ thuật của nghệ nhân Thu Thu cũng phản ánh đúng quy luật của nghệ thuật dân gian: không xuất hiện đột ngột như một “dự án”, mà lớn dần trong người nghệ sĩ qua thời gian, qua cộng đồng và qua sự tích lũy bền bỉ. Trước khi đến với hát văn, bà đã trải qua cải lương, hát mới và nhiều làn điệu dân gian khác.

Chính sự “đa thanh” ấy tạo nên nền tảng để khi gặp chầu văn, bà biết cách nâng niu, tiếp nhận mà không làm phai nhạt bản sắc. Bởi với hát văn, người ta không chỉ học làn điệu, mà còn học cách sống cùng lề lối, cùng những chuẩn mực tinh thần đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Gắn bó với chầu văn từ rất sớm, nghệ sĩ Thanh Long nhớ lại: “Thời ấy, hát văn còn nhiều vất vả, chưa được nhìn nhận như một nghề theo nghĩa hiện đại”. Sở hữu giọng hát cao, sáng, ngay từ những ngày đầu anh đã cảm nhận hát văn “rất dễ học”. Cái “dễ” ấy có thể là cảm giác của người có năng khiếu, nhưng phía sau năng khiếu là cả một hành trình rèn luyện bền bỉ và kiên trì qua năm tháng.

Chia sẻ tại Chương trình biểu diễn nghệ thuật chầu văn Hồn Xưa, Điệu Mới, nghệ sĩ Thanh Long cho biết mỗi giá chầu thường kéo dài, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sức bền cả về thể lực lẫn giọng hát. “Không phải ngày nào tôi cũng chỉ hát một tiếng, mà có những ngày phải hát liên tục trong thời gian rất dài”, anh nói.

Với nghệ sĩ Thanh Long, điều quan trọng nhất vẫn là quá trình rèn luyện lâu dài, ý thức giữ gìn giọng hát và chăm sóc sức khỏe để có thể theo nghề một cách bền vững. Theo đuổi chầu văn, vì thế, không chỉ cần năng khiếu, mà còn đòi hỏi ý chí, sự dẻo dai và một tình yêu thật sự với di sản văn hóa dân tộc.

Những câu chuyện về cơ duyên, tưởng như rất riêng tư ấy, lại khiến bài toán bảo tồn trở nên cụ thể và sống động. Bảo tồn không nằm trong những khẩu hiệu lớn, mà hiện diện trong từng đời nghệ nhân, nghệ sĩ; trong lựa chọn gắn bó dài lâu; trong ý thức rằng “mình đang giữ một phần hồn của dân tộc”.

Khi người làm nghề kể về cái nghèo, cái khó, cái “liều” và cái “bền”, người đọc hiểu rằng chầu văn tồn tại được đến hôm nay không phải ngẫu nhiên, mà được gìn giữ bằng cả một đời người.

chau-van-giua-nhip-song-hien-dai-manh-ngam-thieng-3.jpg
Một tiết mục chầu văn hầu đồng. Ảnh: Báo Phụ nữ Việt Nam.

Làm mới để lan tỏa, giữ gốc để trường tồn

Nếu phải chỉ ra điều khó nhất khi trình diễn chầu văn, nhiều người sẽ nghĩ tới kỹ thuật thanh nhạc, cách nhả chữ hay khả năng diễn cảm. Thế nhưng, với nghệ nhân Thu Thu, yếu tố được đặt lên trước hết lại là tâm linh.

Theo bà, để trở thành người hát văn giỏi cần nhiều điều hội tụ, song nền tảng vẫn là “cái tâm” và ý thức rằng hát văn trước hết là hát để thờ. Khi coi đó đơn thuần là một loại hình biểu diễn, chầu văn rất dễ đánh mất giá trị cốt lõi. Bởi chầu văn không chỉ là âm nhạc, mà là âm nhạc gắn với trách nhiệm đối với một không gian văn hóa mang tính thiêng.

Sau yếu tố tâm linh là những yêu cầu nghề nghiệp khắt khe. Nghệ nhân Thu Thu nhắc đến giọng hát, kỹ thuật thanh nhạc, sự phối hợp của dàn nhạc, nhạc cụ truyền thống, và đặc biệt là lời văn cổ. Theo bà, lời hát văn phải súc tích, được chắt lọc từ tinh hoa thơ ca Việt. Điều làm chầu văn khác biệt so với nhiều loại hình truyền thống khác còn nằm ở con đường học nghề.

“Các loại hình nghệ thuật khác đều có trường lớp để giảng dạy. Riêng hát văn có một đặc thù là phải học từ các nghệ nhân dân gian”, bà chia sẻ và nói thêm, muốn chạm tới “hồn cốt”, người học cần được truyền dạy trực tiếp từ những người trong nghề, những người mang theo kinh nghiệm được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Nếu lạm dụng kỹ thuật, hoặc đưa quá nhiều yếu tố hàn lâm theo lối “đồng phục hóa”, chầu văn có nguy cơ đánh mất chất dân gian thuần khiết vốn làm nên sức sống của mình.

Nghệ nhân Thu Thu cũng nhấn mạnh đến sự phong phú, đa dạng của hát văn với gần 100 làn điệu khác nhau. Mỗi làn điệu mang một công năng và sắc thái riêng, phù hợp với từng trích giá, từng không gian vấn hầu, khóa lễ. Hát điệu Xá, người hát phải hiểu Xá là gì, tính chất kết nối ra sao.

Muốn tạo không khí uy nghi, trang trọng có thể dùng các bản dâng hương, khai quang; khi cần sự sôi nổi, rộn ràng là Lưu thủy, Xuân Phong, Long Hổ; còn những lúc trầm buồn, lắng đọng lại tìm đến Phú chênh, Phú rầu…

Những dẫn chứng ấy cho thấy chầu văn là một “ngôn ngữ” có ngữ pháp riêng. Người hát không thể chỉ thuộc lời, thuộc nốt, mà cần hiểu vì sao phải dùng làn điệu đó trong bối cảnh ấy, để tiếng hát vang lên đúng chỗ, đúng lúc.

chau-van-giua-nhip-song-hien-dai-manh-ngam-thieng-4.jpg
Bên cạnh việc biết các nghi lễ hầu đồng, người thực hành nghi lễ phải biết về lịch sử, gốc tích của các vị thánh để có thể giúp người xem hiểu sâu sắc về ý nghĩa của từng giá đồng. Ảnh: VietnamNet.

Tuy vậy, nói đến bảo tồn không có nghĩa là khép kín. Nghệ nhân Thu Thu chia sẻ, hát văn và sự sáng tạo trong hát văn luôn song hành. Qua thời gian, các thế hệ cung văn, nghệ nhân dân gian đã không ngừng bồi đắp, làm giàu thêm để hình thành nên một kho tàng hát văn phong phú, đủ đầy như ngày hôm nay.

Vì thế, việc đưa hơi thở đương đại vào hát văn, để công chúng dễ tiếp cận hơn, là điều cần thiết. Tuy nhiên, theo bà, sự đổi mới ấy phải được phân định rạch ròi, tránh làm nhòa đi ranh giới giữa thực hành tín ngưỡng và biểu diễn nghệ thuật.

Theo nghệ nhân Thu Thu, hát văn hiện nay có thể nhìn nhận theo hai nhánh rõ ràng. Nhánh thứ nhất là hát văn phục vụ tín ngưỡng, hiện diện trong các canh hầu để thanh đồng loan giá phụng hành. Nhánh thứ hai là hát văn được đưa lên sân khấu biểu diễn, phục vụ công chúng rộng rãi.

Với nhánh tín ngưỡng, nguyên tắc cốt lõi là bảo tồn: giữ nguyên các bản văn cổ, gìn giữ “hồn cốt” của văn hóa tín ngưỡng. Còn với nhánh sân khấu, việc tạo điểm nhấn, tăng sức cuốn hút, làm mới trong khuôn khổ cho phép là cần thiết, để nhiều người hơn có thể biết và đến gần với hát văn.

Chính vì thế, vai trò truyền dạy trở nên then chốt. Nghệ nhân Thu Thu phân biệt rõ giữa “nghệ sĩ” và “nghệ nhân”. Nghệ sĩ thường được đào tạo bài bản trong trường lớp, hoạt động chuyên nghiệp trên sân khấu.

Nghệ nhân lại gắn bó với đời sống dân gian, với nghệ thuật quần chúng và thực hành truyền thống. Tuy khác nhau về con đường và môi trường hoạt động, nhưng trách nhiệm chung vẫn là bảo tồn, gìn giữ, phát triển và lan tỏa di sản.

Nghệ nhân có nhiệm vụ lưu truyền các bản cổ, giữ gìn cốt lõi qua nhiều thế hệ; nghệ sĩ, khi biểu diễn, có thể đưa thêm yếu tố kỹ thuật và chất liệu mới để tăng sức hấp dẫn. Hai vai trò ấy không loại trừ nhau, vấn đề là mỗi người làm đúng phần việc của mình, rạch ròi vai trò, không nhập nhằng, không đánh tráo giá trị.

Với nữ nghệ nhân gạo cội, điều khiến bà vui mừng nhất lúc này là ngày càng có nhiều bạn trẻ tìm đến hát văn, tìm hiểu, học hát văn và dần yêu hát văn. Đó là một tín hiệu đáng mừng, cho thấy mạch nguồn di sản vẫn đang được tiếp nối. Tuy vậy, bà mong người trẻ đến với hát văn bằng sự hiểu biết và lòng trân trọng.

“Nếu hát trích giá, hãy tìm hiểu tích thánh, trân quý các bản văn cổ, gìn giữ làn lối, điệu thức để thể hiện trích giá một cách nguyên bản và chuẩn mực nhất. Còn khi đưa hát văn lên sân khấu biểu diễn, có thể sáng tạo, nhưng phải trong khuôn khổ, không được phóng túng đến mức làm mất đi giá trị cốt lõi và vẻ đẹp vốn có của chầu văn”, bà chia sẻ.

Hãy đến với hát văn, bởi hát văn là hồn cốt của dân tộc, là tinh hoa nghệ thuật dân gian dạy con người hướng tới chân - thiện - mỹ, biết sống thiện để xứng đáng với truyền thống tốt đẹp ngàn đời mà cha ông đã dày công gìn giữ - Nghệ nhân Trần Xuân Thu.

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/chau-van-giua-nhip-song-hien-dai-mach-ngam-thieng-trong-ky-uc-van-hoa-viet-post765852.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/chau-van-giua-nhip-song-hien-dai-mach-ngam-thieng-trong-ky-uc-van-hoa-viet-post765852.html
Bài liên quan
Tinh Hoa Việt 2025 và hành trình làm mới văn hoá Việt
Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết Trương Thành Trung cho rằng Tinh Hoa Việt được tạo dựng để xác lập một cách nhìn, một hệ giá trị và một chuẩn mực phát triển.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Chầu văn giữa nhịp sống hiện đại: Mạch ngầm thiêng trong ký ức văn hóa Việt