Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, mối quan hệ lớn giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường không còn là những lựa chọn riêng lẻ, mà là một chỉnh thể thống nhất, hữu cơ.

Tư duy phát triển toàn diện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là Đại hội khởi đầu cho kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội thể hiện ý chí quyết tâm, bản lĩnh chính trị và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Báo cáo chính trị trình Đại hội đã xác định 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Đặc biệt, Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận và đường lối phát triển đất nước.
Một trong những quan điểm nổi bật là “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”.

Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa đã được đặt ra từ những ngày đầu của nước Việt Nam mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, trong công cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề phải chú ý đến cùng, phải coi trọng ngang nhau, đó là chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Người cũng khẳng định, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”; văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.
Từ Đại hội VI, đến Cương lĩnh năm 1991 đều nhấn mạnh yêu cầu kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài. Đại hội VIII, Đảng yêu cầu tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống Nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Đại hội IX tiếp tục đặt ra yêu cầu rõ hơn về mối quan hệ về Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển.
Như vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường không phải là vấn đề mới, mà là một quá trình nhận thức, bổ sung và phát triển liên tục trong tư duy lý luận của Đảng. Nội dung cốt lõi của mối quan hệ này là không chờ đến khi kinh tế đạt trình độ cao mới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; càng không thể “hy sinh” công bằng xã hội, văn hóa, môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, việc giải quyết mối quan hệ này đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Sự đồng thuận xã hội đối với đường lối đổi mới của Đảng được củng cố; niềm tin vào sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa được nâng cao. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ chế chính sách hoàn thiện, tạo tiền đề vật chất để đầu tư phát triển văn hóa, mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực phát triển cho các tầng lớp Nhân dân.

Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn những hạn chế. Ở một số nơi, nhận thức về vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội chưa đầy đủ; sức ép tăng trưởng khiến một số ngành, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến văn hóa, công bằng xã hội và môi trường. Đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng; hệ thống thiết chế văn hóa chưa đồng bộ; phân hóa xã hội, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và tệ nạn xã hội vẫn là những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Giải pháp phát triển bền vững
Điểm mới trước hết trong Văn kiện Đại hội XIV là tư duy đột phá về hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đại hội đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân”.
So với các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh rõ hơn mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Trước đây, chúng ta thường nhấn mạnh phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; lần này, yếu tố môi trường được đặt cùng trong cấu trúc trung tâm của phát triển.
Văn kiện Đại hội XIV cũng đặt ra yêu cầu quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững. Phát triển kinh tế phải gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Một điểm mới quan trọng khác là xác lập mô hình tăng trưởng mới. Mô hình này chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.
Điều đó cho thấy, phát triển nhanh trong giai đoạn mới không thể là tăng trưởng bằng mọi giá. Tăng trưởng phải dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng với đó, phát triển văn hóa, con người phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng của phát triển bền vững.
Đáng chú ý, nội dung thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường đã được đưa vào Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Điều này thể hiện sự chuyển hóa từ tư duy, quan điểm thành nhiệm vụ cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm.
Về quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân, các nhiệm vụ được xác định gồm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế, sổ sức khỏe điện tử của người dân; hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại, hướng tới bao phủ toàn bộ lực lượng lao động; hoàn thiện hệ thống trợ giúp xã hội, chính sách an sinh đối với đối tượng yếu thế; nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội theo hướng bảo đảm mức sống tối thiểu và sàn an sinh xã hội quốc gia.
Về quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, Chương trình hành động đặt ra yêu cầu xây dựng, triển khai chương trình cải thiện ô nhiễm môi trường ở đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn; ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên, môi trường; hoàn thiện bản đồ rủi ro thiên tai, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai; phát triển kinh tế tuần hoàn, tái chế, tái sử dụng chất thải; bố trí hợp lý khu dân cư, hỗ trợ nhà ở cho người dân tại vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai, bão lũ, sạt lở đất.

Từ những định hướng đó, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền về phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong điều kiện mới. Kinh tế chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững khi coi trọng văn hóa, đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển.
Cùng với nâng cao nhận thức, cần tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị với phát triển văn hóa; khắc phục tình trạng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ giá trị văn hóa, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Mỗi chính sách phát triển kinh tế cần đồng thời hướng tới phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Quản lý phát triển xã hội phải tập trung xây dựng mô hình phát triển hợp lý, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân, nhất là nhóm yếu thế, vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, cần quan tâm giải quyết tốt các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình phát triển giữa yêu cầu bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường với điều kiện kinh tế còn hạn chế; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, giáo dục; giữa chủ trương phát triển xã hội với tổ chức thực hiện; giữa yêu cầu phát triển con người với chất lượng nguồn nhân lực hiện có.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phải tiếp tục được coi là đột phá chiến lược. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý, phát triển xã hội, nhất là trong bối cảnh đất nước chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.