Việc bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông đang được nhìn nhận như con đường quan trọng để hình thành tư duy khoa học, phát triển năng lực tự học và định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Từ thực tiễn triển khai, các nhà giáo cho rằng cần cách tiếp cận thực chất, đồng bộ và phù hợp để hoạt động này phát huy hiệu quả bền vững.

Khi thực sự tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, thay vì tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, học sinh được rèn luyện cách đặt câu hỏi “tại sao”, từ đó tìm kiếm và đề xuất giải pháp. Quá trình này góp phần phát triển tư duy logic, khả năng phân tích và tổng hợp thông tin một cách khách quan, đồng thời thúc đẩy hình thành tư duy bậc cao. Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu đòi hỏi học sinh chủ động tìm kiếm tài liệu, xử lý thông tin và tự điều chỉnh hoạt động học tập, qua đó hình thành nền tảng cho học tập suốt đời - một năng lực cốt lõi trong Chương trình GDPT 2018.
Ngoài ra, thông qua nghiên cứu khoa học, học sinh có cơ hội nhận diện rõ hơn sở thích và năng lực cá nhân, từ đó định hướng phù hợp đối với các lĩnh vực như kỹ thuật, công nghệ hay khoa học dữ liệu, giúp các em đưa ra lựa chọn nghề nghiệp chính xác hơn thay vì chạy theo xu hướng. Không chỉ dừng lại ở năng lực, hoạt động này còn góp phần hình thành những phẩm chất quan trọng như tính kiên trì, sự trung thực trong nghiên cứu và tinh thần hợp tác, đáp ứng yêu cầu của thời đại đổi mới sáng tạo.
Việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông hiện nay đang tồn tại cả thuận lợi và thách thức đan xen. Ở mặt tích cực, các hoạt động như cuộc thi khoa học kỹ thuật đã tạo ra sân chơi trí tuệ bổ ích, thu hút nhiều học sinh có năng khiếu tham gia; nhiều đề tài của học sinh Việt Nam đoạt giải cao ở cấp quốc tế, cho thấy tiềm năng sáng tạo rất lớn.
Tuy nhiên, ở một số nơi, hoạt động này còn mang tính hình thức hoặc chạy theo thành tích, dẫn đến tình trạng giáo viên hay chuyên gia can thiệp quá sâu, làm giảm ý nghĩa thực chất của nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về điều kiện giữa các vùng miền còn khá rõ rệt khi học sinh ở đô thị lớn hoặc trường chuyên có nhiều cơ hội tiếp cận cơ sở vật chất và chuyên gia hơn so với học sinh ở vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, năng lực hướng dẫn của giáo viên chưa đồng đều; một bộ phận giáo viên còn gặp khó khăn trong việc định hướng đề tài và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp.

Nghiên cứu khoa học là con đường rất hiệu quả để phát triển năng lực tự học và định hướng nghề nghiệp. Khi học sinh được tiếp cận sớm với nghiên cứu, các em hiểu sâu hơn bản chất của các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, thấy rõ mối liên hệ giữa kiến thức trong bài học với các vấn đề thực tiễn của đời sống, từ đó các em có cơ sở để chọn ngành, chọn hướng học ở bậc cao hơn một cách đúng đắn và phù hợp với năng lực của bản thân. Đây cũng chính là tinh thần mà các hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học hiện nay hướng tới: Vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn, phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp.
Thêm nữa, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng thúc đẩy học sinh đam mê nhiều hơn với những môn khoa học, từ đó tăng dần tỷ lệ học sinh lựa chọn học các môn khoa học tự nhiên ở cấp THPT nhiều hơn. Điều này giúp tăng nguồn lực lao động cho các lĩnh vực công nghệ, khoa học sau này.
Thúc đẩy hiệu quả việc phát hiện và bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh, giải pháp đúng không phải là bắt buộc các em đều phải có một đề tài nghiên cứu. Làm như vậy rất dễ biến hoạt động này thành hình thức. Cách tiếp cận hiệu quả hơn là xây dựng lộ trình nhiều lớp, với nhiều đối tượng học sinh khác nhau.
Lớp thứ nhất là nền tảng dành cho tất cả học sinh: trong các môn Khoa học tự nhiên, Toán, Tin học, cần tăng dạy học theo hướng tìm tòi, thực hành, dự án, để học sinh quen với việc đặt câu hỏi, đo đạc, quan sát, xử lý dữ liệu và trình bày kết quả.
Lớp thứ hai là phát triển năng lực và nuôi dưỡng đam mê dành cho học sinh có hứng thú: câu lạc bộ, dự án liên môn, ngày hội STEM, các bài toán gắn với vấn đề thực của nhà trường và cộng đồng.
Lớp thứ ba là giáo dục mũi nhọn dành cho học sinh thực sự có tố chất và đam mê: được mentor chuyên sâu, được làm việc với phòng thí nghiệm của trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, và được tập huấn nghiêm túc về phương pháp, đạo đức nghiên cứu, thuyết trình khoa học. Hoạt động NCKH nên gắn với đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá; đồng thời là một hoạt động thực chất hướng đến phát triển người học.

Về phía cơ quan quản lý, theo tôi, Sở GD&ĐT nên có sự hợp tác với các trường đại học để hỗ trợ các trường phổ thông về cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, đội ngũ chuyên gia tư vấn.
Về phía nhà trường, hai việc cấp bách nhất là bồi dưỡng giáo viên về phương pháp nghiên cứu, thống kê, đọc tài liệu, sử dụng công nghệ và đổi tiêu chí đánh giá. Không đánh giá cao “sản phẩm đẹp” mà đánh giá cao “câu hỏi đúng, dữ liệu thật, quy trình chuẩn, kết luận trung thực”. Bộ GD&ĐT đã ban hành khung nội dung thí điểm giáo dục AI cho học sinh phổ thông, việc phát triển nghiên cứu khoa học trong nhà trường hiện nay cũng cần đi xa hơn các mô hình trưng bày, để chuyển sang năng lực ứng dụng AI trong quá trình nghiên cứu và xây dựng giải pháp.
Tại Ban Mai School, chúng tôi lựa chọn hướng đi là xây nền tư duy khoa học từ sớm thông qua STEM, Robotics, học tập theo dự án và trải nghiệm thực tiễn. Nhà trường đã đưa chương trình học STEM Robotic và nghiên cứu khoa học vào chương trình chính khóa từ năm học lớp 6, lớp 7, tạo nền tảng cho các con phát triển năng lực nghiên cứu khoa học ở các khối lớp tiếp theo 8 - 12.
Nhưng quan điểm của chúng tôi rất rõ: Không chạy theo số lượng đề tài, không biến nghiên cứu khoa học thành phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là giúp học sinh hình thành được thói quen tư duy bằng chứng, biết quan sát, biết đặt câu hỏi và biết giải quyết vấn đề thật của cuộc sống. Đa dạng hóa các sân chơi và cuộc thi để học sinh được thử sức, được trải nghiệm như các cuộc thi ý tưởng khoa học, nghiên cứu khoa học kỹ thuật các cấp, sân chơi STEM quốc tế Designathon. Đồng hành cùng hoạt động nghiên cứu khoa học, chúng tôi chú trọng công tác hướng nghiệp, trong đó nổi bật là Chương trình Trạm hướng nghiệp - Chạm ước mơ với sự tham gia của cha mẹ học sinh tất cả các lớp. Học sinh được tìm hiểu chuyên sâu về các ngành nghề, từ đó được định hướng và có hiểu biết để lựa chọn phù hợp với năng lực thế mạnh, đam mê của bản thân.

Việc phát hiện và bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh phổ thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh giáo dục hiện nay đang chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực.
Trước hết, hoạt động nghiên cứu khoa học góp phần phát triển tư duy cho học sinh, đặc biệt là tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Các em không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ kiến thức mà còn biết đặt câu hỏi, tìm tòi và lý giải các hiện tượng trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, quá trình nghiên cứu còn rèn luyện năng lực tự học một cách hiệu quả. Học sinh phải chủ động tìm kiếm tài liệu, chọn lọc thông tin, tiến hành thử nghiệm và điều chỉnh phương pháp thực hiện. Đây là những kỹ năng thiết yếu cho việc học tập suốt đời. Ngoài ra, hoạt động nghiên cứu khoa học còn góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Thông qua quá trình này, các em có cơ hội khám phá sở thích, năng lực của bản thân, từ đó đưa ra những lựa chọn phù hợp hơn cho tương lai.
Trong những năm gần đây, việc phát hiện và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học ở học sinh có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều trường học tổ chức các cuộc thi khoa học kỹ thuật, xây dựng câu lạc bộ STEM, tạo môi trường để học sinh thể hiện ý tưởng sáng tạo. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Ở nhiều nơi, hoạt động này còn mang tính phong trào, chưa đi vào chiều sâu. Kỹ năng nghiên cứu của học sinh vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong việc xác định vấn đề và lựa chọn phương pháp nghiên cứu.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng gặp không ít khó khăn do chưa được đào tạo bài bản về hướng dẫn nghiên cứu khoa học, trong khi áp lực chương trình học vẫn khá lớn. Điều kiện cơ sở vật chất ở một số trường, đặc biệt là ở vùng khó khăn, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động này.
Để nâng cao hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía. Trước hết, về phía nhà trường, cần xây dựng môi trường học tập khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc tổ chức các câu lạc bộ khoa học, tạo điều kiện cho học sinh tham gia các dự án gắn với thực tiễn, đồng thời tăng cường liên kết với các trường đại học và các đơn vị nghiên cứu.
Với giáo viên, mỗi thầy cô cần chuyển từ vai trò truyền đạt kiến thức sang vai trò hướng dẫn, đồng hành cùng học sinh trong suốt quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần được bồi dưỡng về phương pháp và kỹ năng hướng dẫn nghiên cứu khoa học để đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường kinh phí cho hoạt động nghiên cứu trong nhà trường; giảm định mức giờ dạy đối với giáo viên tham gia hướng dẫn; có hình thức ghi nhận, đánh giá kết quả nghiên cứu của học sinh thiết thực, hiệu quả... cũng là những giải pháp quan trọng.

Trường THPT chuyên Lào Cai có nhiều lợi thế nổi bật về chất lượng đầu vào của học sinh, đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm cùng hệ thống cơ sở vật chất tương đối hiện đại và đồng bộ. Hoạt động nghiên cứu khoa học được nhà trường đặc biệt chú trọng, xác định là một trong hai lĩnh vực giáo dục mũi nhọn, song song với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa, qua đó tạo dựng được phong trào nghiên cứu sôi nổi và duy trì ổn định trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi trên, nhà trường vẫn đối mặt với một số khó khăn nhất định. Theo đó, điều kiện phục vụ nghiên cứu chuyên sâu còn hạn chế so với các trung tâm lớn; việc kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp chưa thực sự hiệu quả; đồng thời, tiềm năng của học sinh trong các hướng nghiên cứu liên ngành và gắn với thực tiễn địa phương vẫn chưa được khai thác đầy đủ.
Từ thực tiễn nhà trường, giải pháp cụ thể khắc phục những hạn chế nói trên, đồng thời tăng cường chất lượng, kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học là tổ chức kết nối học sinh với cựu học sinh, giảng viên đại học. Bên cạnh đó, xây dựng ngân hàng đề tài nghiên cứu mở, giúp học sinh dễ tiếp cận và phát triển ý tưởng. Nhà trường đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu của học sinh; chú trọng công tác khen thưởng, động viên kịp thời đối với giáo viên và học sinh có thành tích trong phong trào nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh trong suốt quá trình triển khai thực hiện công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, qua đó tạo sự đồng thuận và hỗ trợ toàn diện cho hoạt động này.
“Giá trị lớn nhất của việc bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học ở học sinh phổ thông không nằm ở chỗ tạo ra bao nhiêu đề tài đi thi, mà giúp các em hình thành tư duy khoa học. Đó là việc học sinh biết đặt câu hỏi, hình thành giả thuyết, tìm bằng chứng, xử lý dữ liệu, kiểm chứng kết quả và điều chỉnh nhận định khi có dữ liệu mới. Đây là năng lực rất cốt lõi trong bối cảnh hiện nay, khi tri thức thay đổi nhanh và học sinh không thể chỉ học bằng cách ghi nhớ”, cô Nguyễn Thị Thu Trang chia sẻ.