Tuổi thơ một buổi cắp sách đến lớp, buổi lên nương rẫy cùng cha mẹ, cô gái Êđê năm nào đã đi một hành trình bền bỉ để trở thành Phó Giáo sư, Tiến sĩ người Êđê đầu tiên của Tây Nguyên.
Với bà Tuyết Nhung Bkrông, đích đến của tri thức chưa bao giờ dừng lại ở học hàm hay danh xưng, bà luôn hướng về buôn làng để gìn giữ, tiếp nối văn hóa bản địa.
Sinh ra trong một gia đình có 12 anh chị em tại buôn Mblơt, xã Ea Bông (huyện Krông Ana (cũ), tỉnh Đắk Lắk), nay là buôn Ea Kruế, xã Ea Na, tuổi thơ của Tuyết Nhung Bkrông gắn với những khó khăn. Bố mẹ làm nông, cuộc sống phụ thuộc vào nương rẫy, một buổi lên nương, buổi đến lớp là nhịp sống quen thuộc của hầu hết trẻ trong buôn làng.

Những ngày cấy lúa, nhổ mạ, đào hố cà phê, lấy măng rừng, gánh củi, đào giếng… xen kẽ với giờ học bài buổi tối bên ánh đèn dầu đã trở thành ký ức không thể phai mờ. Giữa thiếu thốn, gia đình bà vẫn giữ một nguyên tắc quan trọng rằng con cái không được bỏ học. Chính sự kiên định ấy đã gieo vào tâm trí cô bé Êđê năm nào niềm tin rằng cái chữ có thể mở ra một con đường khác cho cuộc đời.
Với Tuyết Nhung Bkrông ngày ấy, học tập không chỉ là lối thoát khỏi nghèo khó, mà còn là cách để giữ gìn, khẳng định, bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc mình. Khi bước chân vào giảng đường đại học, bà mang theo một vốn liếng đặc biệt - “tri thức bản địa” được hun đúc từ buôn làng, từ ký ức cộng đồng.
Bà luôn khao khát rằng bản thân từng trưởng thành từ buôn làng, sau học tập, sẽ lại quay về phục vụ chính cộng đồng bản địa. Sau khi tốt nghiệp khoa Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Đà Lạt, nữ sinh Tuyết Nhung Bkrông về nhận công tác tại Trường Đại học Tây Nguyên. Bà vừa tham gia giảng dạy, vừa miệt mài học tập, nghiên cứu.

Năm 2005, bà bảo vệ thành công luận văn Tiến sĩ với đề tài “Văn hóa mẫu hệ qua sử thi Êđê”. Sau đó, bà tiếp tục dày công nghiên cứu và “hái quả ngọt” khi trở thành Phó Giáo sư người Êđê đầu tiên của Tây Nguyên.
Nhắc đến PGS.TS Tuyết Nhung Bkrông, giới nghiên cứu không thể không nhắc đến các công trình bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số.
Bà cùng các cộng sự đã thực hiện thành công số hóa điện tử nhiều bộ từ điển song ngữ: Việt - Jrai, Jrai - Việt; Việt - Stiêng, Stiêng - Việt; Việt - M’nông, M’nông - Việt; Việt - Chăm, Chăm - Việt… Những công trình này không chỉ có giá trị khoa học mà còn là “cứu cánh” cho việc gìn giữ ngôn ngữ trước nguy cơ mai một.

Song song, bà tham gia biên soạn sách giáo khoa phương pháp dạy tiếng Êđê, chủ trì giáo trình dạy tiếng Jrai, viết giáo trình dạy tiếng Êđê, tiếng Chăm trực tuyến; chủ biên giáo trình đại cương văn hóa các dân tộc Tây Nguyên là những tài liệu nền tảng cho đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy.
Nhiều công trình nghiên cứu của bà được xuất bản thành sách như Văn hóa mẫu hệ qua sử thi Êđê, Văn hóa ẩm thực Êđê ở Đắk Lắk, Luật tục Bahnar trong đời sống đương đại…, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn, phát huy kho tàng văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số.

Một dấu ấn đặc biệt của PGS.TS Tuyết Nhung Bkrông là cuốn sách gỗ “Thầy giáo Y Jút H’wing - người con ưu tú của Tây Nguyên”, do bà phối hợp cùng nghệ nhân Võ Văn Hải thực hiện. Tác phẩm được viết bằng 4 thứ tiếng: Việt - Êđê - Anh - Pháp và được xác lập kỷ lục Việt Nam là quyển sách gỗ đầu tiên viết bằng bốn ngôn ngữ.
Là người tâm huyết với văn hóa Tây Nguyên, bà Tuyết Nhung Bkrông luôn quan niệm rằng văn hóa không phải là thứ lạ lẫm để trưng bày, đó còn là tài nguyên có thể tạo sinh kế, làm giàu bền vững cho cộng đồng nếu được nhận diện, ứng dụng đúng. Đặc biệt, nữ PGS.TS luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số.
Tại nhiều buôn làng, bà tổ chức các lớp tập huấn cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa, giúp họ hiểu rõ chủ trương, chính sách, nhận diện vai trò của mình trong gia đình, cộng đồng, từ đó giảm thiểu thiệt thòi, tăng cơ hội phát triển.

Một dấu ấn đặc biệt của bà là chương trình hỗ trợ các nữ nghệ nhân gốm tại xã Yang Tao (nay là xã Liên Sơn Lắk) gắn bảo tồn nghề truyền thống với phát triển sinh kế; xây dựng, phục hồi bến nước Yang Tao, kết hợp tạo nên không gian văn hóa cộng đồng là nơi ký ức được đánh thức và tiếp nối.
Không chỉ dừng lại ở đó, bà dành nhiều năm ứng dụng nghiên cứu vào đời sống và trực tiếp hướng dẫn thạc sĩ, nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận văn tiến sĩ; tham gia các chương trình tập huấn cho già làng, trưởng bản uy tín trong chương trình mục tiêu quốc gia.
Với sinh viên, PGS.TS Tuyết Nhung Bkrông là người giảng dạy bằng tâm huyết, trách nhiệm xã hội, người truyền cảm hứng. Bà không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn giúp sinh viên phát huy nội lực, rèn kỹ năng nghiên cứu, nuôi dưỡng ý thức cộng đồng với quan niệm: “Dân tộc còn văn hóa là còn và mất văn hóa là mất gốc”.

Từ trăn trở khi thấy cộng đồng dân tộc thiểu số thường chỉ xuất hiện như “đối tượng nghiên cứu”, bà kiên trì theo đuổi con đường nghiên cứu liên ngành, để người trong cuộc được cất tiếng nói về chính mình.
Mới đây, PGS.TS Tuyết Nhung Bkrông đồng tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế tại Trường Đại học Tây Nguyên với chủ đề “Từ ký ức bản địa đến viễn cảnh toàn cầu: Nghệ thuật và cộng đồng thiểu số từ góc nhìn xuyên văn hóa”.
“Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, các giá trị văn hóa bản địa và đời sống nghệ thuật của các cộng đồng thiểu số đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển song hành cùng không ít thách thức. Tôi muốn người bản địa được nói lên những suy nghĩ, trăn trở của chính mình mà không phải nhờ ai nói giúp”, PGS.TS Tuyết Nhung Bkrông chia sẻ.
Các tham luận tại hội thảo nêu trên đã góp phần phá bỏ định kiến, khuôn mẫu về cộng đồng thiểu số trong văn học, điện ảnh, truyền thông đại chúng; đặt vấn đề bất công xã hội, bất công môi trường, phân biệt sắc tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Nữ PGS.TS người Êđê cho rằng, bằng trải nghiệm, ký ức, tri thức bản địa của bản thân được hun đúc qua nhiều thế hệ minh chứng rằng, nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số sẽ trọn vẹn khi người trong cuộc được cất tiếng nói về chính mình.
Từ buôn làng đến học hàm Phó Giáo sư, Tuyết Nhung Bkrông đã đi một hành trình dài. Nhưng đích đến cuối cùng của bà vẫn kiên định với lý tưởng quay trở lại phục vụ buôn làng và cộng đồng.