AI đang tái định hình giáo dục đại học, buộc giảng viên chuyển từ truyền đạt kiến thức sang dẫn dắt tư duy và trải nghiệm học tập.

PGS.TS Ngô Tứ Thành - Viện Công nghệ thông tin - Học viện Phụ nữ Việt Nam cho rằng, cần phân định rõ giữa “trợ lý ảo” và “thầy giáo ảo”
Trợ lý ảo là hệ thống quản lý đa nhiệm được thiết kế nhằm tối ưu hóa hiệu suất hành chính và tự động hóa quy trình dòng công việc. Phạm vi hoạt động của trợ lý ảo mang tính vĩ mô và kết nối đa nền tảng (quản lý lịch trình, phân loại email, trích xuất tệp tin, ghi biên bản cuộc họp trực tuyến). Đối tượng tương tác chính của công cụ này là giảng viên và nhà quản lý giáo dục, đóng vai trò như một "thư ký riêng" thông minh.
Thầy giáo ảo là một thực thể chuyên biệt được cấu hình sâu bằng các phương pháp luận sư phạm nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục cụ thể. Trọng tâm tương tác của thầy giáo ảo là con người (người học), sở hữu năng lực phân tích hành vi học tập, giải thích cấu trúc khái niệm, xây dựng lộ trình học tập cá nhân hóa và đưa ra các phản hồi định hướng thay vì chỉ cung cấp thông tin.
PGS.TS Ngô Tứ Thành đưa ra thang tiến hóa từ AI Chatbot cơ bản đến thầy giáo ảo tối cao với 4 cấp độ: AI Chatbot, trợ lý ảo, thầy giáo ảo sơ khởi, thầy giáo ảo tối cao.
Ở cấp độ đầu tiên là AI chatbot dạy học cơ bản, hoạt động dựa trên xử lý ngôn ngữ tự nhiên và nhận diện từ khóa. Hệ thống hoàn toàn thụ động, chỉ vận hành khi nhận được câu lệnh và tương tác một chiều qua văn bản; không thể ghi nhớ ngữ cảnh dài hạn và không đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh.
Cấp độ thứ hai là trợ lý ảo giáo dục, khi AI được tích hợp sâu với hệ thống quản lý học tập, có khả năng chủ động nhắc lịch nộp bài, tổng hợp học liệu hay tự động chấm điểm trắc nghiệm. Tuy nhiên, mô hình này vẫn thiếu năng lực sư phạm và khả năng điều hướng tư duy người học.
Bước sang cấp độ thứ ba - “thầy giáo ảo sơ khởi”, AI bắt đầu chuyển từ “hiểu kiến thức” sang “hiểu hành vi con người”. Hệ thống tích hợp các thuật toán học thích ứng và trí tuệ nhân tạo cảm xúc, có thể áp dụng phương pháp gợi mở Socratic, thay đổi cách giảng dạy dựa trên trạng thái cảm xúc hoặc mức độ tập trung của người học.
Ở cấp độ cao nhất, được gọi là “thầy giáo ảo tối cao” hay “thầy giáo ảo lượng tử”, AI không còn giới hạn trên màn hình mà sẽ hiện diện trong môi trường thực tế ảo tăng cường (AR/VR/XR) dưới dạng hologram ba chiều. Hệ thống có khả năng tương tác với người học thông qua cảm biến sinh trắc học thời gian thực và giao diện não - máy tính, từ đó tối ưu hóa quá trình tiếp thu tri thức.
Theo khảo sát của tác giả thực hiện năm 2025, khoảng 85% giảng viên đại học tại Việt Nam hiện mới sử dụng AI ở cấp độ chatbot và trợ lý ảo, tương ứng bậc 1 và bậc 2; phần lớn chưa tiếp cận được năng lực sư phạm số ở cấp độ “thầy giáo ảo”.
Để một thầy giáo ảo có thể nghe, nhìn, tư duy sư phạm và hiện diện như một thực thể tự nhiên, PGS.TS Ngô Tứ Thành cho biết hệ thống đòi hỏi sự tích hợp đồng bộ của 4 nhóm công nghệ cốt lõi: Bộ não tư duy - mô hình ngôn ngữ lớn; giao diện hiển thị - con người kỹ thuật số; cầu nối giao tiếp - audio AI nâng cao; giác quan tâm lý - trí tuệ nhân tạo nhận thức cảm xúc.

Đến năm 2026, y học đã ủy quyền cho robot mổ thay bác sĩ. Tại sao giáo dục lại không thể ủy quyền hoàn toàn cho AI, cho thầy giáo ảo? PGS.TS Ngô Tứ Thành cho rằng, bản chất nằm ở sự khác biệt giữa hai hệ giá trị.
Bản chất ca phẫu thuật là chuỗi thao tác kỹ thuật cắt, khâu, bóc tách dựa trên cấu trúc giải phẫu sinh lý có sẵn . Robot chiến thắng con người nhờ cánh tay không run, camera phóng đại 3D và quỹ đạo rạch chính xác đến milimet. Mục tiêu của y khoa là phục hồi trạng thái vật lý, sau ca mổ robot không cần dạy bệnh nhân cách sống tử tế.
Trong khi đó, bộ não và tâm lý người học biến đổi liên tục, không có một "bản đồ giải phẫu" chung cho mọi tư duy. Mục tiêu của giáo dục đại học không phải là bán kiến thức (tri thức đã có sẵn trong kho dữ liệu của AI) mà là bán trải nghiệm văn hóa, năng lực phản biện và thế giới quan đạo đức.
Robot mổ thay bác sĩ vì cơ thể là vật chất. Thầy giáo ảo không thay được thầy giáo thật vì giáo dục là tinh thần. Trong tương lai, bác sĩ lùi về sau làm người giám sát và ra quyết định chiến lược cho robot mổ. Thầy giáo phải bước lên phía trước, thoát khỏi việc đọc chép giáo trình để trở thành người đồng hành định hình tư duy cho sinh viên.
Để không bị đào thải trước làn sóng dịch chuyển cục bộ vào năm 2030, PGS.TS Ngô Tứ Thành nhấn mạnh, giảng viên đại học cần ngay lập tức nâng cấp từ năng lực sư phạm truyền thống sang khung năng lực sư phạm số gồm 6 trụ cột cốt lõi.
Một là kỹ năng kỹ thuật tạo câu lệnh giáo dục. Giảng viên phải làm chủ kỹ thuật ra lệnh cho các mô hình ngôn ngữ lớn để tự động hóa việc xây dựng đề cương chi tiết, ngân hàng câu hỏi phân hóa. Đồng thời, thành thạo việc ứng dụng các trình tạo video AI để dịch thuật bài giảng giữ nguyên khẩu hình miệng sang đa ngôn ngữ, hoặc dùng D-ID biến ảnh tĩnh của các nhân vật lịch sử thành avatar biết nói nhằm tăng tính hấp dẫn trực quan.
Hai là, kỹ năng thiết kế kiểm tra, đánh giá chống gian lận AI. Tuyệt đối loại bỏ các định dạng bài tập về nhà, tiểu luận truyền thống vốn là phân khúc dễ bị AI thao túng và viết thay. Giảng viên phải chuyển dịch sang đánh giá dựa trên năng lực thực tế bậc cao: yêu cầu sinh viên phản biện trực tiếp, giải quyết các tình huống thực tế của doanh nghiệp theo thời gian thực, thực hiện dự án nhóm phức tạp hoặc vấn đáp trực diện để kiểm tra tư duy thực chất.
Ba là, kỹ năng điều phối lớp học hỗn hợp và lớp học đảo ngược. Chuyển giao toàn bộ phần giảng lý thuyết nền tảng cho sinh viên tự học qua video AI và chatbot ở nhà. Giảng viên đóng vai trò điều phối viên, sử dụng toàn bộ quỹ thời gian quý giá trên lớp cho các hoạt động thảo luận chuyên sâu, tranh biện đỉnh cao, giải quyết vấn đề và gắn kết tư duy xã hội.
Bốn là kỹ năng phân tích dữ liệu học tập. Giảng viên cần có năng lực đọc hiểu các biểu đồ báo cáo tự động từ hệ thống LMS và trợ lý AI. Từ việc phân tích thời gian tương tác, tỷ lệ hoàn thành bài tập của sinh viên, giảng viên đưa ra các quyết định can thiệp kịp thời đối với những cá nhân có nguy cơ trượt môn hoặc đang bị tụt lại phía sau nhằm tối ưu hóa sự hỗ trợ cá nhân hóa.
Năm là năng lực định hướng đạo đức số và liêm chính học thuật. Người thầy phải dạy cho sinh viên ranh giới đạo đức giữa việc sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ tư duy đối trọng với hành vi đạo văn, gian lận thuật toán. Đồng thời, rèn luyện cho người học tư duy hoài nghi khoa học, kỹ năng kiểm chứng nguồn tin để phát hiện các lỗi "ảo giác" do AI tạo ra trong quá trình xuất dữ liệu.
Sáu là quản trị thương hiệu cá nhân và kết nối số. Giảng viên tương lai phải thoát khỏi không gian học thuật cục bộ của nhà trường, chủ động xây dựng sự hiện diện chuyên môn trên các nền tảng học thuật toàn cầu. Việc kết nối với cộng đồng nghiên cứu quốc tế và các doanh nghiệp toàn cầu trên không gian số giúp giảng viên liên tục cập nhật các xu hướng, công nghệ, bài toán thực tế của thời đại vào trong cấu trúc bài giảng.
PGS.TS Ngô Tứ Thành nhấn mạnh, ranh giới cuối cùng tách biệt con người và máy móc chính là trải nghiệm cuộc sống thực tế - thứ mà thuật toán giả lập không bao giờ nếm trải được. Mô hình giáo dục tương lai sẽ vận hành theo thể Hybrid tuyệt đối: AI dạy kiến thức - con người dạy cách sống
Để hệ thống giáo dục đại học không bị khủng hoảng trước các cột mốc tự động hóa, theo PGS.TS Ngô Tứ Thành, trường đại học cần thay đổi cơ cấu phân bổ ngân sách, dịch chuyển từ đầu tư giảng đường cố định sang xây dựng hạ tầng số.
Đồng thời, cần cải cách triệt để điểm chuẩn, tiêu chuẩn đầu ra và khung chương trình của ngành sư phạm. Đưa Khung năng lực sư phạm số thành cấu phần bắt buộc trong chương trình đào tạo giáo sinh và bồi dưỡng giảng viên thường niên.
Chủ động thành lập các đại hội đồng liên minh nhằm định nghĩa lại chuẩn năng lực số, quy trình bảo mật dữ liệu sinh trắc học của sinh viên và phân định trách nhiệm pháp lý khi xảy ra sai sót tư duy do thuật toán huấn luyện gây ra.
"Thầy giáo ảo sẽ không thay thế thầy giáo thật, nhưng thầy giáo biết dùng AI chắc chắn sẽ thay thế thầy giáo không biết dùng AI", PGS.TS Ngô Tứ Thành khẳng định.