Phát huy vai trò giáo viên cốt cán, chia sẻ học liệu và hỗ trợ tại trường giúp mở rộng cơ hội học AI cho học sinh vùng khó.

Đưa trí tuệ nhân tạo vào lớp học đặt giáo viên trước yêu cầu mới về tổ chức dạy học và đánh giá. Để học sinh biết sử dụng AI có suy xét, thầy cô cần được bồi dưỡng phương pháp, có học liệu phù hợp và đồng nghiệp đồng hành khi vận dụng.
Bồi dưỡng từ những vướng mắc
Một sản phẩm học tập hoàn chỉnh chưa phản ánh đầy đủ năng lực học sinh nếu giáo viên không biết các em đã sử dụng AI thế nào, kiểm chứng và điều chỉnh những gì. Khi công cụ có thể nhanh chóng tạo câu trả lời, việc hướng dẫn học sinh tự suy nghĩ càng đòi hỏi sự chuẩn bị của người thầy.
Từ thực tiễn giảng dạy và làm báo cáo viên tập huấn năng lực số tại Phú Thọ, cô Nguyễn Thị Thu Phương, Thạc sĩ Khoa học máy tính, giáo viên Tin học Trường THCS Phúc Yên, nhận thấy giáo viên đang gặp 3 nhóm khó khăn. Đó là lúng túng về phương pháp sư phạm, thách thức trong kiểm chứng thông tin và đánh giá quá trình, cùng sự thiếu hụt học liệu có thể sử dụng trong bài dạy.

Theo cô Phương, nhiều thầy cô lo học sinh lệ thuộc AI, suy giảm tư duy độc lập hoặc gian lận học tập. Trong khi đó, công cụ có thể đưa ra thông tin sai, thậm chí tự tạo số liệu, khiến việc hướng dẫn học sinh thẩm định càng cần được chú trọng. Nguồn bài dạy mẫu, hướng dẫn kiểm chứng và tiêu chí đánh giá còn phân tán cũng làm tăng thời gian chuẩn bị của giáo viên.
Bởi vậy, nội dung bồi dưỡng cần đi vào những tình huống thầy cô phải xử lý. Với cô Phương, điểm khởi đầu là giúp giáo viên chủ động thiết kế hoạt động để AI gợi mở, đặt câu hỏi, khuyến khích học sinh giải thích và tìm hiểu thêm.
“Con người luôn giữ quyền kiểm soát, thẩm định và chịu trách nhiệm về kết quả”, cô Phương nhấn mạnh.
Từ quan điểm ấy, cô đề xuất ưu tiên kỹ năng thiết kế câu lệnh phục vụ mục tiêu sư phạm. Giáo viên cần biết hướng công cụ vào vai trò hỗ trợ tư duy, đồng thời giao nhiệm vụ để học sinh thể hiện cách hiểu và lập luận của mình.
Khả năng kiểm chứng cũng phải trở thành nội dung thực hành trong quá trình bồi dưỡng. Giáo viên hướng dẫn học sinh đối chiếu câu trả lời của AI với sách giáo khoa, văn bản và dữ liệu tin cậy, nhận diện thông tin thiếu căn cứ hoặc thiên lệch. Trong giải pháp của cô Phương, quy trình này được gọi là “Màng lọc trí tuệ”.
Đi cùng kiểm chứng là thay đổi cách thu thập minh chứng học tập. Nhật ký, bản nháp và phần khai báo sử dụng AI giúp giáo viên hiểu quá trình học sinh hình thành sản phẩm, từ đó đánh giá và hỗ trợ phù hợp. Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân cần được hướng dẫn xuyên suốt các hoạt động.
Yêu cầu này cũng phù hợp với Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lý ban hành theo Thông tư 18/2026/TT-BGDĐT. Khung xác định AI là một miền năng lực riêng, gắn ứng dụng trong dạy học với đạo đức, minh bạch, công bằng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Khi giáo dục AI được triển khai với nội dung cốt lõi 12 tiết/lớp/năm học, việc chuẩn bị đội ngũ càng cần gắn với bài dạy cụ thể. Những vướng mắc phát sinh trong lớp học cũng đặt ra nhu cầu hỗ trợ thường xuyên sau tập huấn.
Đồng hành để đến với vùng khó
Trong giải pháp của mình, cô Phương đề xuất phát huy giáo viên cốt cán, nhất là giáo viên Tin học, làm “cố vấn số” tại trường. Qua những buổi trao đổi chuyên môn quy mô nhỏ, thầy cô cùng lựa chọn công cụ, thiết kế nhiệm vụ và tháo gỡ khó khăn khi lồng ghép AI vào các môn học.
Sự hỗ trợ ấy cần tiếp nối trong sinh hoạt chuyên môn liên môn và cụm trường. Những vấn đề từ tiết dạy thực tế trở thành nội dung trao đổi, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp theo khả năng học sinh và điều kiện thiết bị.
Tại Trường Tiểu học Hùng Vương, phường Phú Thọ, việc thí điểm giáo dục AI năm học 2025–2026 đã gắn với bồi dưỡng đội ngũ. Giáo viên cốt cán tham gia tập huấn cấp tỉnh rồi triển khai lại tại đơn vị; sinh hoạt chuyên môn tập trung nghiên cứu bài học, chia sẻ phương pháp tích hợp AI.

Ở vùng cao Tuyên Quang, cô Đoàn Thị Phương Thảo, giáo viên Tin học Trường Tiểu học và THCS Yên Minh, xã Yên Minh, cũng duy trì việc chia sẻ học liệu, hỗ trợ đồng nghiệp. Là giáo viên cốt cán và thành viên Tổ ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số cấp tỉnh, cô linh hoạt ứng dụng công nghệ, AI trong giảng dạy khi điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn.
Để đồng nghiệp có thêm tài nguyên sử dụng, cô Phương cho biết giải pháp của mình xây dựng kho tri thức số mở với hơn 50 kế hoạch bài dạy phục vụ 12 tiết AI cốt lõi từ khối 6 đến khối 9. Kho còn có mẫu câu lệnh, công cụ kiểm chứng và bộ tiêu chí đánh giá năng lực số, giúp giáo viên tham khảo, điều chỉnh theo thực tế.
Cùng với học liệu, cô đề xuất quy trình tổ chức hoạt động gồm 5 bước, từ xác định vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện đến kiểm chứng, đánh giá và cải tiến. Qua từng bước, giáo viên có cơ sở quan sát cách học sinh suy nghĩ, lựa chọn và sửa chữa sản phẩm.
Với trường thiếu phòng máy, giải pháp bổ sung các hoạt động không cần máy tính như thảo luận tình huống đạo đức số, tranh biện hoặc đóng vai hội đồng thẩm định thông tin. Những hình thức này hướng tới duy trì cơ hội tham gia của học sinh, đồng thời cần được lựa chọn phù hợp với yêu cầu từng bài học.
Từ hỗ trợ tại chỗ đến chia sẻ học liệu, vai trò giáo viên cốt cán được thể hiện qua khả năng cùng đồng nghiệp giải quyết vấn đề trong lớp học. Khi được chuẩn bị về phương pháp và điều kiện thực hiện, thầy cô có thêm cơ sở hướng dẫn học sinh vùng khó tiếp cận AI an toàn, chủ động và có trách nhiệm.