Một số vụ gian lận thi cử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT vừa qua đã cho thấy quy chế dù chặt chẽ đến đâu cũng có thể bị vô hiệu hóa nếu con người cố tình vi phạm.
Vì vậy, theo các chuyên gia, để ngăn tiêu cực, điều quan trọng không phải bổ sung thêm thủ tục mà là bịt những "lỗ hổng" trong khâu tổ chức và giám sát kỳ thi.
Dùng camera giám sát… con người
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội cho rằng, vụ gian lận thi cử xảy ra tại Tuyên Quang có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Vụ việc không chỉ làm sai lệch kết quả của một số bài thi mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của những học sinh học thật, thi thật trên cả nước khi kết quả kỳ thi còn dùng để tuyển sinh đại học.
“Quy chế thi đã quy định đầy đủ, chặt chẽ trách nhiệm của từng người liên quan. Nhưng dù chặt chẽ đến đâu, quy chế cũng có thể bị vô hiệu hóa nếu người thực thi cố tình thông đồng hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp. Do đó, cần kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của con người trong toàn bộ quá trình tổ chức thi”, bà Nga nhấn mạnh.
Theo nữ đại biểu, để có một kỳ thi minh bạch, hiệu quả, trước hết phải nhận diện đúng bản chất của nguy cơ gian lận.
Trước hết, cần đổi mới việc lựa chọn, bố trí nhân sự làm nhiệm vụ thi. Những vị trí có khả năng chi phối hoạt động của điểm thi như trưởng - phó trưởng điểm thi, thư ký, cán bộ giám sát… phải lựa chọn trên cơ sở tiêu chuẩn rõ ràng, kiểm tra lịch sử công tác và thực hiện nguyên tắc không để phát sinh xung đột lợi ích. Không nên bố trí quá nhiều cán bộ đang công tác tại chính cơ sở có đông học sinh dự thi vào những vị trí then chốt.
Có thể điều động chéo cán bộ giữa các địa phương, các cơ sở giáo dục; đồng thời phân công ngẫu nhiên cán bộ coi thi sát thời điểm tổ chức thi.
Phải thiết lập cơ chế giám sát độc lập, thực chất hơn. Camera trong phòng thi, khu vực bảo quản đề thi, bài thi và các hành lang liên quan là công cụ cần thiết, nhưng không thể chỉ lắp đặt mang tính hình thức. Phải có quy định thống nhất về vị trí lắp đặt, chất lượng hình ảnh, thời hạn lưu trữ, trách nhiệm quản lý và quy trình trích xuất dữ liệu.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT không chỉ đòi hỏi quy chế chặt chẽ mà còn cần cơ chế giám sát hiệu quả nhằm bảo đảm công bằng (Ảnh minh hoạ: Trịnh Nguyễn).
Dữ liệu camera phải được niêm phong, bảo vệ an toàn và chỉ được tiếp cận theo thẩm quyền, bảo đảm vừa phục vụ giám sát vừa không xâm phạm đến quyền riêng tư của thí sinh.
Ngoài ra, cần thành lập các đoàn kiểm tra lưu động, lựa chọn điểm kiểm tra theo phương thức ngẫu nhiên và không thông báo trước.
Cơ chế giám sát phải đủ khả năng phát hiện ngay những biểu hiện bất thường như cán bộ không có nhiệm vụ vào phòng thi, giám thị đứng quá lâu bên cạnh một thí sinh, trao đổi không đúng quy định hoặc tự ý thay đổi vị trí làm nhiệm vụ.
Dùng công nghệ nhận diện các dấu hiệu bất thường
Bà Nga cũng đề xuất ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm các dấu hiệu bất thường.
Sau khi chấm thi, hệ thống phải tự động phân tích phổ điểm, mức độ tương đồng của bài làm, sự tập trung bất thường của điểm cao tại một phòng thi, một dãy số báo danh hoặc một điểm thi. Trường hợp xuất hiện tỷ lệ điểm tuyệt đối hoặc kết quả tương đồng vượt xa mức thông thường phải được cảnh báo và kiểm tra trước khi chính thức công nhận kết quả.
Công nghệ có thể giúp phát hiện nhanh hơn, nhưng kết luận sai phạm phải dựa trên quá trình xác minh và chứng cứ đầy đủ. Không nên chỉ dựa vào một phổ điểm bất thường để quy kết học sinh gian lận.
Đồng thời phải nâng mức trách nhiệm của người đứng đầu và bảo vệ người phản ánh tiêu cực; thiết lập kênh phản ánh bảo mật để cán bộ coi thi, học sinh và phụ huynh có thể cung cấp thông tin về dấu hiệu vi phạm. Người tố giác trung thực phải được bảo vệ, tránh tình trạng biết có sai phạm nhưng không dám lên tiếng vì lo bị gây khó khăn hoặc chịu sức ép từ các mối quan hệ trong ngành.
Vị đại biểu này cũng cho rằng cần xem lại mức độ phụ thuộc của tuyển sinh đại học vào một kỳ thi duy nhất. Các cơ sở giáo dục đại học có thể sử dụng kết quả này để tuyển sinh, nhưng đối với những ngành có mức cạnh tranh cao hoặc yêu cầu đặc thù, cần kết hợp các phương thức đánh giá phù hợp, minh bạch và có khả năng kiểm chứng.
“Khi một kỳ thi phải gánh quá nhiều mục tiêu, áp lực thành tích và lợi ích gắn với từng điểm số sẽ tăng lên, kéo theo nguy cơ phát sinh tiêu cực. Minh bạch và thuận lợi không phải là hai mục tiêu đối lập.
Chúng ta cần tổ chức kỳ thi nghiêm túc nhưng không gây căng thẳng không cần thiết; ứng dụng công nghệ nhưng không bỏ lại học sinh vùng khó khăn; xử lý nghiêm người vi phạm nhưng đồng thời bảo vệ quyền lợi, danh dự và cơ hội học tập của những em học thật, thi thật”, bà Nga nhấn mạnh.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện không chỉ dùng xét công nhận tốt nghiệp mà còn là căn cứ tuyển sinh của nhiều trường đại học (Ảnh minh hoạ: N.L).
Đại học cùng tham gia để kỳ thi minh bạch, giảm cơ hội gian lận
Đồng quan điểm, TS Sái Công Hồng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ gian lận trong kỳ thi xuất phát từ những bất cập trong quy chế tổ chức thi.
Theo ông, trước đây các môn thi bắt buộc có số lượng thí sinh đông nên việc bố trí phòng thi, giám sát tương đối chặt chẽ. Tuy nhiên, hai năm gần đây khi thí sinh được lựa chọn môn thi, nhiều môn chỉ có rất ít thí sinh dự thi, thậm chí chỉ bố trí một phòng thi, khiến công tác giám sát bộc lộ những lỗ hổng cần tiếp tục hoàn thiện.
Vị chuyên gia cho rằng điều quan trọng không chỉ là phát hiện và xử lý gian lận sau khi xảy ra, mà phải thiết kế kỳ thi theo hướng ngăn ngừa gian lận ngay từ đầu, để việc gian lận trở nên khó thực hiện và không đem lại lợi ích.
Ngoài ra, việc sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT để tuyển sinh cũng kéo theo nguy cơ gian lận. Để ngăn chặn, các cơ sở đào tạo đại học cần tham gia sâu hơn vào quá trình tổ chức kỳ thi, từ xây dựng đề, giám sát đến kiểm tra chất lượng. Việc sử dụng kết quả tuyển sinh phải đi kèm với trách nhiệm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của kỳ thi.
Về mặt kỹ thuật, ông cho rằng cần mở rộng ngân hàng câu hỏi và tạo ra nhiều phiên bản đề thi có độ khó tương đương nhưng khác nhau về câu hỏi gốc. Khi các thí sinh trong cùng phòng thi làm những mã đề thực sự khác biệt, khả năng trao đổi đáp án hoặc sao chép bài sẽ giảm đáng kể.
Bên cạnh đó, cần tăng cường giám sát chéo ở tất cả các khâu, từ coi thi đến chấm thi, đồng thời ứng dụng phân tích dữ liệu sau kỳ thi để phát hiện những dấu hiệu bất thường, qua đó kịp thời kiểm tra, xác minh nếu có nghi vấn.
Theo TS Sái Công Hồng, về lâu dài, việc xây dựng ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa và tiến tới cá thể hóa đề thi là hướng đi phù hợp. Trong điều kiện hiện nay, giải pháp khả thi là tiếp tục hoàn thiện quy chế, tăng tính độc lập trong tổ chức thi, đồng thời khuyến khích các trường đại học liên kết tổ chức các kỳ thi đánh giá dùng chung nếu có nhu cầu tuyển sinh riêng, bảo đảm thuận lợi và công bằng cho thí sinh trên cả nước.