Chính sách giáo dục

Cần chuyển từ đại học "truyền đạt kiến thức" sang "sáng tạo tri thức"

16/07/2026 09:37

Theo chuyên gia, đại học không chỉ cung cấp bằng cấp hay nhân lực cho thị trường lao động, mà phải trở thành một chủ thể kiến tạo phát triển.

Tại buổi làm việc về công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 và tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo giáo dục đại học phải đi trước trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ chiến lược.

Cần chuyển từ đại học truyền đạt kiến thức sang sáng tạo tri thức - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc với ngành Giáo dục và Đào tạo về công tác chuẩn bị khai giảng năm học mới 2026-2027 và kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, vào giữa tháng 6/2026 (Ảnh: TTXVN).

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng yêu cầu lựa chọn một số cơ sở đào tạo, viện nghiện cứu, trung tâm, phòng thí nghiệm trọng điểm... trên cơ sở có cạnh tranh về kết quả, hiệu quả. Chủ động nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, mở rộng hợp tác công - tư, đặt hàng đào tạo theo nhiệm vụ quốc gia, sản phẩm đầu ra, hiệu quả sử dụng nguồn lực, liên kết nghiên cứu, khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm trong các cơ sở công lập. Đại học phải gắn chặt với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhu cầu địa phương.

Phóng viên Dân trí đã có cuộc trao đổi với GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) - xoay quanh những chỉ đạo quan trọng trên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu giáo dục đại học phải đi trước trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ chiến lược. Thưa GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, vì sao yêu cầu này lại được đặt ra vào thời điểm hiện nay và nó có ý nghĩa như thế nào đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới?

- Tôi cho rằng yêu cầu này được đặt ra rất đúng thời điểm. Cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ hay quy mô thị trường, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực, năng lực làm chủ công nghệ và khả năng tạo ra tri thức mới.

Cần chuyển từ đại học truyền đạt kiến thức sang sáng tạo tri thức - 2

GS-TSKH Nguyễn Đình Đức (Ảnh: Minh Phong).

Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Muốn vậy, giáo dục đại học phải đi trước một bước, bởi đại học là cái nôi sáng tạo trí thức, là nơi đào tạo đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, nhà quản trị và cũng là nơi hình thành các nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, công nghệ nguồn.

Ý nghĩa lớn nhất của chỉ đạo này là xác lập lại vị trí của đại học: không chỉ cung cấp bằng cấp hay nhân lực cho thị trường lao động, mà phải trở thành một chủ thể kiến tạo phát triển.

Năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới sẽ phụ thuộc rất lớn vào việc các trường đại học có tạo ra được con người giỏi, tri thức mới, công nghệ mới và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hay không.

Có ý kiến cho rằng nhiều trường đại học của Việt Nam vẫn thiên về truyền thụ kiến thức hơn là tạo ra tri thức và công nghệ mới. Theo ông, nhận định này có phản ánh đúng thực tế không?

- Nhận định này có cơ sở, nhưng không nên khái quát cho toàn bộ hệ thống. Những năm gần đây, một số đại học lớn của Việt Nam đã có bước tiến rõ rệt về công bố quốc tế, đào tạo tiến sĩ, xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, chuyển giao công nghệ và hợp tác với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, nhìn trên bình diện chung, phần lớn cơ sở giáo dục đại học vẫn chủ yếu thực hiện chức năng giảng dạy, trong khi năng lực tạo ra tri thức mới và công nghệ mới còn hạn chế.

Nguyên nhân không chỉ nằm ở các trường đại học mà còn ở việc nguồn lực nghiên cứu còn phân tán, cơ chế tài chính, mua sắm và sử dụng tài sản công còn nhiều ràng buộc.

Đặc biệt, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) tại các trường đại học vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu đầu tư cho R&D dưới 2% GDP, một quốc gia khó có thể làm chủ và sáng tạo công nghệ.

Cần chuyển từ đại học truyền đạt kiến thức sang sáng tạo tri thức - 3

Chuyên gia cho rằng, cần chuyển từ "đại học truyền đạt kiến thức" sang "đại học sáng tạo tri thức" (Ảnh minh hoạ: Hoài Nam).

Dù Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tổng đầu tư cho R&D lên 2% GDP, trong đó ngân sách nhà nước chiếm khoảng 40% (0,8% GDP) và doanh nghiệp 60% (1,2% GDP), nhưng thực tế còn khoảng cách rất lớn.

Hiện chỉ khoảng 15% ngân sách khoa học và công nghệ được dành cho R&D, tương đương khoảng 0,15% GDP. Ở khu vực doanh nghiệp, mức chi cho khoa học và công nghệ vốn đã thấp, phần dành cho R&D còn khiêm tốn hơn.

Trong khi đó, mức đầu tư R&D trung bình của thế giới đã đạt khoảng 2% GDP. Trung Quốc dành khoảng 2,8% GDP cho R&D theo chuẩn OECD; Hàn Quốc đạt 4,94%, Israel 6,35%, còn Mỹ khoảng 3,45% GDP.

Nguyên nhân quan trọng nữa là thiếu các phòng thí nghiệm tiên tiến, hiện đại. Đầu tư cho đại học, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu và phòng thí nghiệm, hiện vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển. Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu chuyên nghiệp, sau tiến sĩ và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm còn mỏng.

Do đó, cần chuyển từ mô hình “đại học truyền đạt kiến thức” sang mô hình “đại học sáng tạo tri thức”. Không phải mọi trường đại học đều phải trở thành đại học nghiên cứu. Song, những trường được xác định theo định hướng này cần được đầu tư dài hạn, tăng nguồn lực cho R&D, phát triển tiềm lực khoa học công nghệ, được trao quyền tự chủ thực chất và đánh giá bằng chất lượng đầu ra.

Một yêu cầu đáng chú ý là đại học phải gắn chặt với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhu cầu phát triển của địa phương. Theo GS, vì sao mối liên kết này nhiều năm qua vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả và cần thay đổi như thế nào?

- Mối liên kết giữa đại học và doanh nghiệp chưa hiệu quả chủ yếu vì lợi ích, khi hai bên chưa tìm được những tiếng nói chung. Nhà trường thường nghiên cứu theo thế mạnh sẵn có, trong khi doanh nghiệp cần lời giải nhanh cho những bài toán cụ thể.

Nhiều doanh nghiệp vẫn ưu tiên nhập khẩu công nghệ hơn là đầu tư dài hạn cho nghiên cứu trong nước. Các quy định về sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, góp vốn bằng tài sản trí tuệ và phân chia lợi ích cũng chưa có cơ chế đủ mạnh để triển khai thông thoáng.

Để thay đổi, doanh nghiệp phải tham gia từ đầu, không chỉ xuất hiện ở khâu tuyển dụng. Doanh nghiệp cần cùng nhà trường xây dựng chương trình đào tạo, học bổng, đặt hàng nghiên cứu, tài trợ cho nghiên cứu. Bên cạnh đó, cùng đầu tư phòng thí nghiệm, đồng hành cả khâu chế thử, thử nghiệm cho đến thương mại hóa sản phẩm.

Doanh nghiệp có thể cử chuyên gia tham gia giảng dạy, tiếp nhận giảng viên và sinh viên làm việc trong môi trường thực tế, đào tạo thông qua dự án. Nhà nước nên có ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đối với chi phí nghiên cứu đặt hàng tại đại học.

Thực tế cho thấy nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Theo GS, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy đầu tư dàn trải sang tập trung nguồn lực cho những cơ sở có năng lực để tạo ra các "đầu tàu"?

Theo tôi, đã đến lúc phải chuyển mạnh sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, bởi nguồn lực của đất nước còn hạn chế và các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược đòi hỏi mức đầu tư rất lớn.

Tuy nhiên, tập trung nguồn lực không đồng nghĩa với cấp vốn theo danh tiếng hay tạo ra cơ chế khép kín. Việc lựa chọn các trường đại học, viện nghiên cứu và phòng thí nghiệm trọng điểm cần dựa trên cạnh tranh công khai, với các tiêu chí đo lường rõ ràng như chất lượng đội ngũ, tiềm lực khoa học công nghệ, công bố và sáng chế, chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế, khả năng giải quyết các bài toán lớn của đất nước và năng lực quản trị.

Theo đó, các đơn vị được lựa chọn phải đủ năng lực trở thành hạt nhân, tiên phong đổi mới và đầu tàu dẫn dắt hệ thống trong những lĩnh vực có thế mạnh. Nếu không đạt yêu cầu, nguồn lực phải được điều chỉnh hoặc chuyển sang đơn vị khác.

Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn phải duy trì mức đầu tư nền tảng cho toàn hệ thống, chú trọng đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và hỗ trợ các trường ở vùng khó khăn. Cách tiếp cận này vừa xây dựng một số “đầu tàu” để làm nòng cốt và dẫn dắt, vừa tạo mạng lưới liên kết để kết quả đầu tư lan tỏa tới các trường, doanh nghiệp và địa phương.

Không đầu tư trọng tâm, trọng điểm, chúng ta khó có thể đạt được mục tiêu đã đặt ra là đến năm 2035 phải có những đại học, những lĩnh vực lọt vào top 100 thế giới.

Theo GS, đâu là những việc cần làm ngay trong thời gian tới để các trường đại học thực sự trở thành nơi đào tạo nhân lực chất lượng cao, tạo ra tri thức mới và đóng góp trực tiếp cho sự phát triển của đất nước?

- Tôi cho rằng, có bảy việc cần triển khai ngay. Trước hết, phải nhanh chóng thể chế hóa đầy đủ tinh thần chỉ đạo và tầm nhìn của Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, đặc biệt là quyền tự chủ toàn diện, không đồng nhất tự chủ với tự lo tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học.

Thứ hai, phân tầng và xác định rõ sứ mệnh của từng cơ sở là đại học nghiên cứu, đại học ứng dụng hay cơ sở đào tạo theo nhu cầu vùng và địa phương.

Thứ ba, lựa chọn một số trường, viện, nhóm nghiên cứu mạnh và phòng thí nghiệm trọng điểm để hình thành các trung tâm xuất sắc của Việt Nam, đầu tư đủ mạnh theo cơ chế cạnh tranh, đặt hàng và đánh giá bằng sản phẩm.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ khoa học xuất sắc thông qua cơ chế thu hút và tuyển dụng mở, tiền lương cạnh tranh, quỹ nghiên cứu ổn định và chính sách thu hút chuyên gia giỏi, kể cả chuyên gia người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ năm, thiết lập cơ chế hợp tác thực chất với doanh nghiệp: đồng thiết kế chương trình, đồng tài trợ nghiên cứu, đồng sở hữu công nghệ và cùng đào tạo nhân lực.

Thứ sáu, đổi mới cách đánh giá trường và giảng viên, chuyển từ coi trọng số lượng sang chất lượng, tác động và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Cuối cùng, phải đẩy mạnh quốc tế hóa, đổi mới chương trình đào tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số và sử dụng AI có trách nhiệm trong quản trị, giảng dạy và nghiên cứu.

Kết quả của một trường đại học cần được đo bằng ba sản phẩm cốt lõi: con người có năng lực, tri thức mới có giá trị và công nghệ đủ sức giải quyết được những bài toán thực tiễn của đất nước.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Theo Dân trí
https://dantri.com.vn/giao-duc/can-chuyen-tu-dai-hoc-truyen-dat-kien-thuc-sang-sang-tao-tri-thuc-20260715130251765.htm
Copy Link
https://dantri.com.vn/giao-duc/can-chuyen-tu-dai-hoc-truyen-dat-kien-thuc-sang-sang-tao-tri-thuc-20260715130251765.htm
Bài liên quan
Quy định mới về ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BGDĐT quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Cần chuyển từ đại học "truyền đạt kiến thức" sang "sáng tạo tri thức"