Không còn những tiết học đọc - chép khô khan, những con số sự kiện xa xôi... giáo viên trong kỷ nguyên số đang biến các trang sử dân tộc thành thước phim sống động, chạm đến trái tim học trò bằng sức mạnh của công nghệ và lòng nhiệt huyết.

Trong tâm thức của nhiều thế hệ học sinh, Lịch sử thường bị gán mác là môn học “phụ”, với những con số khô khốc, diễn biến trận đánh dài dặc khó nhớ và bài thi “học thuộc lòng” đầy áp lực. Thế nhưng, tại Trường THPT Hàm Yên (xã Hàm Yên, Tuyên Quang), cái nhìn ấy đang dần thay đổi nhờ nỗ lực của các thầy cô, trong đó có cô Lê Thị Phương.
Sinh năm 1982, với hơn 20 năm đứng lớp, cô Lê Thị Phương thuộc thế hệ giáo viên trưởng thành từ thời kỳ giáo dục truyền thống. Nhớ lại những ngày đầu năm 2005, khi rời giảng đường Trường Đại học Sư phạm Hà Nội về nhận công tác theo sự phân công của Sở GD&ĐT tỉnh Tuyên Quang, cô Phương không khỏi bùi ngùi.
Ngày ấy, Hàm Yên còn nghèo, ngôi trường cấp ba còn đơn sơ. Để có tấm lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ hay chiến dịch Thu Đông, cô Phương phải thức trắng đêm tự tay vẽ từng nét mực, tô từng mảng màu trên tờ giấy A0 khổ lớn. Tranh ảnh tư liệu khá xa xỉ, phải nhờ người quen dưới xuôi tìm mua rồi gửi xe khách ngược ngàn lên huyện. Sự tỉ mẩn ấy tuy tạo nên gắn kết giữa giáo viên và bài giảng, nhưng lại đặt ra giới hạn lớn về tương tác và khả năng hình dung trực quan của học sinh.
Khi làn sóng chuyển đổi số đổ bộ vào ngành Giáo dục, cô Phương từng cảm thấy chông chênh. Ở tuổi ngoài 40, đôi tay đã quen với cầm phấn, đôi mắt quen với việc đọc giáo án viết tay thì việc phải đối diện với màn hình cảm ứng, các phần mềm thiết kế bài giảng như Canva, PowerPoint hay nền tảng tương tác trực tuyến là một thử thách lớn.
“Giáo viên có tuổi như tôi phải cố gắng rất nhiều để theo kịp. Ban đầu, việc tiếp cận công nghệ là trở ngại lớn đối với giáo viên dạy môn xã hội”, cô Phương tâm sự. Nỗi lo bị “lỗi thời”, cảm giác “không theo kịp” đồng nghiệp trẻ năng động đã khiến người giáo viên kỳ cựu trăn trở. Thế nhưng, nhìn ánh mắt xa xăm của học trò trong những tiết học lý thuyết suông, cô hiểu rằng nếu bản thân không thay đổi sẽ làm nghèo đi tâm hồn của các em.
Quyết tâm “chuyển mình” của cô Phương bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: Học cách sử dụng màn hình tương tác thay bảng đen, tìm hiểu cách lồng ghép video tư liệu vào bài giảng để học sinh thấy được “khói lửa hào hùng” của cha ông chứ không chỉ qua lời kể. Cô không giấu dốt, sẵn sàng học hỏi đồng nghiệp Tin học, thậm chí hỏi cả học sinh trong lớp.
Kết quả của sự nỗ lực ấy chính là Giải Nhì cuộc thi “Thiết bị dạy học số” cấp tỉnh năm 2024. Một giáo viên dạy môn xã hội, ở độ tuổi nhiều người chọn an phận, đã chứng minh: Công nghệ không có ranh giới tuổi tác, chỉ có ranh giới của sự quyết tâm. Giờ đây, tiết học của cô Phương là hành trình về quá khứ qua không gian số - nơi học sinh được tương tác, nhập vai và yêu lịch sử một cách tự nhiên nhất.

Tại Trường PTDTNT THCS&THPT Hàm Yên, một “ngọn lửa” khác cũng đang rực cháy mạnh mẽ, đó là cô giáo Nguyễn Thị Hải - Tổ trưởng chuyên môn tổ Xã hội. Nếu cô Phương được ví như biểu tượng của sự vượt khó để thích nghi, thì cô Hải là hiện diện của sáng tạo toàn diện và tinh thần dấn thân vì học sinh dân tộc thiểu số.
Lịch sử đối với học sinh vùng cao vốn đã khó vì rào cản ngôn ngữ và điều kiện tiếp xúc văn hóa, với học sinh nội trú sống xa gia đình càng cần phương pháp tiếp cận đặc biệt. Cô giáo Nguyễn Thị Hải hiểu rằng, để học trò yêu lịch sử, giáo viên phải “kể chuyện” bằng ngôn ngữ của thời đại - bằng ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh sống động.
Trong vai trò đứng đầu tổ chuyên môn, cô Nguyễn Thị Hải đã dẫn dắt đồng nghiệp thực hiện các chuyên đề nghiên cứu bài học, biến mỗi tiết dạy Lịch sử thành một dự án nhỏ. Học sinh không còn ngồi thụ động nghe giảng mà trở thành những nhà nghiên cứu, sử dụng Internet tìm kiếm tư liệu, thuyết trình bằng sơ đồ tư duy trên màn hình lớn.
Sự tâm huyết của cô Nguyễn Thị Hải không chỉ nằm ở lời nói mà được minh chứng bằng những kết quả rực rỡ. Năm học 2024-2025, con số khiến nhiều đồng nghiệp phải nể phục: 100% học sinh khối 11, 12 do cô phụ trách đạt mức Đạt trở lên, trong đó tỷ lệ Khá, Tốt chiếm tới 97%. Đặc biệt, đội tuyển học sinh giỏi Lịch sử do cô bồi dưỡng đã mang về 5 giải cấp tỉnh.
Không dừng ở đó, cô Nguyễn Thị Hải còn đạt giải Ba cuộc thi Thiết kế Bài giảng Thiết bị số cấp tỉnh. Cô Hải chia sẻ: “Với môn Lịch sử, để học trò yêu thích, giáo viên phải tự làm mới mình mỗi ngày. Công nghệ rút ngắn khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giúp các em thấy lịch sử dân tộc gần gũi như chính hơi thở của mình”.
Từ câu chuyện của cô Lê Thị Phương và Nguyễn Thị Hải, ngành Giáo dục Tuyên Quang cũng nhìn nhận một thực tế: Chuyển đổi số trong giáo dục không phải là trang bị thật nhiều máy tính hay tivi đắt tiền, mà là sự thay đổi trong tư duy của người thầy.
Sự thành công của hai cô giáo dạy Lịch sử tại xã Hàm Yên đã xóa tan định kiến Lịch sử là môn học khô khan. Khi công nghệ được ứng dụng, lịch sử trở nên đa chiều. Học sinh có thể xem những thước phim tư liệu về chiến tranh, nghe những bản hùng ca cách mạng, thậm chí tham gia các bảo tàng ảo. Sự tương tác này đã đánh thức niềm đam mê tiềm ẩn trong mỗi học sinh, giúp các em nhận thức được việc hiểu biết lịch sử là chìa khóa để định vị bản thân trong tương lai.
Sức mạnh của những tấm gương này không chỉ dừng lại ở kết quả của học sinh mà còn lan tỏa đến đội ngũ nhà giáo. Ông Nguyễn Văn Hanh - Hiệu trưởng Trường THPT Hàm Yên và ông Hà Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường PTDTNT THCS&THPT Hàm Yên cùng khẳng định: Các giáo viên như cô Phương, cô Hải là những “đầu tàu” dẫn dắt công cuộc đổi mới. Họ sẵn sàng chia sẻ giáo án điện tử, hướng dẫn đồng nghiệp cách sử dụng phần mềm, tạo nên môi trường sư phạm năng động, sẵn sàng cho kỷ nguyên số.
Các cô đã chứng minh rằng, tuổi tác hay địa hình vùng cao không phải là rào cản, mà chính sự bảo thủ mới là lực cản lớn nhất của giáo dục. Giữa kỷ nguyên số, các cô vẫn miệt mài “đãi cát tìm vàng”, dùng trái tim để cảm hóa và dùng công nghệ để chắp cánh cho những ước mơ của học trò vùng cao. Lịch sử dân tộc sẽ mãi trường tồn và rực cháy trong tâm hồn thế hệ trẻ khi vẫn còn những người thầy “truyền lửa” tâm huyết và nỗ lực đổi mới như các cô.
Tuyên Quang không chỉ có những di tích lịch sử nức tiếng hào hùng, mà còn có những “chiến sĩ” trên bục giảng, mang lòng yêu nghề, tạo ra những tiết học Sử đậm hơi thở thời đại; gieo mầm cho những thế hệ công dân số vừa có tri thức, vừa có lòng tự tôn dân tộc sâu sắc.