Chính sách giáo dục

Chuẩn nghề nghiệp giảng viên, giáo viên sơ cấp, trung cấp: Những cách làm linh hoạt

Hà Nguyên 16/05/2026 20:10

Việc triển khai các thông tư mới về chuẩn nghề nghiệp đang đưa các cơ sở giáo dục bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh.

Giảng viên Trường Cao đẳng Lương thực – Thực phẩm chấm chọn sản phẩm trong cuộc thi tay nghề học sinh – sinh viên cấp trường. Ảnh: NTCC
Giảng viên Trường Cao đẳng Lương thực – Thực phẩm chấm chọn sản phẩm trong cuộc thi tay nghề học sinh – sinh viên cấp trường. Ảnh: NTCC

Áp lực về tỷ lệ tiến sĩ và yêu cầu chứng chỉ kỹ năng nghề không chỉ đặt ra bài toán đạt chuẩn, mà còn đòi hỏi sự thích ứng để bảo đảm chất lượng thực chất.

Bài toán tăng “tử số”

Đối với các cơ sở giáo dục đại học, trình độ tiến sĩ của giảng viên là một trong những chỉ số then chốt, quyết định năng lực đào tạo và uy tín của nhà trường. Tuy nhiên, sau các đợt sáp nhập hoặc mở rộng quy mô, nhiều cơ sở rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” khi “mẫu số” – tổng số giảng viên – tăng mạnh, trong khi “tử số” – số giảng viên có trình độ tiến sĩ – chưa kịp đáp ứng tương xứng.

TS Nguyễn Đình Tường - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học Nghệ An, thẳng thắn nhìn nhận thực tế nhiều thách thức. Ông cho biết, trước khi sáp nhập, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của nhà trường đạt khoảng 21%. Tuy nhiên, sau hợp nhất, tổng số cán bộ, giảng viên tăng lên gần 320 người, trong khi số tiến sĩ hiện có chỉ khoảng gần 40 người. Sự gia tăng đột ngột của “mẫu số” khiến tỷ lệ đạt chuẩn giảm xuống, tạo áp lực lớn trong việc đáp ứng các quy định về chuẩn, cũng như Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT.

Áp lực này không chỉ dừng ở những con số. Trên thực tế, việc thiếu hụt giảng viên trình độ cao còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở ngành, duy trì ngành và quy mô tuyển sinh. Nếu không có giải pháp kịp thời, quá trình chuyển đổi sau sáp nhập có nguy cơ bị “chững lại” ở khâu đội ngũ.

Trước thách thức đó, Trường Đại học Nghệ An lựa chọn hướng đi mang tính dài hạn: phát triển nguồn tiến sĩ tại chỗ thay vì chỉ phụ thuộc vào tuyển dụng bên ngoài. Chiến lược “Học phí 0 đồng” được triển khai từ năm 2021 là một minh chứng cho cách tiếp cận này.

Theo đó, nhà trường hỗ trợ toàn bộ học phí và chi phí đi lại cho giảng viên theo học nghiên cứu sinh, đồng thời có chế độ khen thưởng đối với những trường hợp hoàn thành đúng hạn hoặc có công bố quốc tế uy tín. Cách làm này không chỉ giải quyết bài toán bằng cấp mà còn góp phần thay đổi tư duy và tạo động lực tự thân cho đội ngũ giảng viên.

Kết quả bước đầu cho thấy tín hiệu tích cực, từ năm 2021 đến nay có khoảng 5 giảng viên đã hoàn thành chương trình tiến sĩ và quay trở lại công tác. Theo ông Tường, các quy định về chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học đã tạo ra tác động trở lại, góp phần thay đổi nhận thức của đội ngũ. Trước đây, dù lãnh đạo nhà trường đã vận động và đưa vào chỉ tiêu hằng năm, số giảng viên đăng ký học nghiên cứu sinh vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên, từ năm 2026, lộ trình này được triển khai quyết liệt hơn.

Trong bối cảnh phải đáp ứng các quy định mới về chuẩn nghề nghiệp giảng viên, đồng thời bảo đảm chỉ tiêu tuyển sinh, Trường Đại học Nghệ An đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp ngắn hạn và trung hạn theo hướng linh hoạt. Theo TS Nguyễn Đình Tường, nhà trường dự kiến ký hợp đồng với các giảng viên có trình độ cao đã nghỉ hưu hoặc chuyên gia bên ngoài. Theo quy định mới, nếu hợp đồng có thời hạn từ 6 tháng trở lên, các nhân sự này sẽ được tính vào tỷ lệ giảng viên cơ hữu của trường.

Một giải pháp khác là điều tiết đội ngũ giảng viên giữa các bậc đào tạo. Hiện nhà trường vẫn đảm nhiệm đào tạo trình độ cao đẳng, do đó có thể điều chuyển một số giảng viên sang khối này. Cách làm này giúp “giảm tải” cho mẫu số khi tính tỷ lệ giảng viên ở bậc đại học, qua đó hạn chế tác động của các quy định về chuẩn tiến sĩ đến chỉ tiêu tuyển sinh.

Trong khi đó, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng lựa chọn cách tiếp cận mang tính hệ thống và đi trước một bước. GS.TS Lê Văn Huy - Hiệu trưởng nhà trường, cho biết tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của trường hiện đạt khoảng 50%, bao gồm cả những giảng viên đang theo học. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai lộ trình chuẩn hóa đội ngũ.

Theo tính toán, với số lượng nghiên cứu sinh hiện có, trong khoảng 3 năm tới, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của trường có thể đạt khoảng 70%. Nhà trường đặt mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 80%, tiệm cận chuẩn của các cơ sở đào tạo định hướng nghiên cứu.

Kinh nghiệm của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng là điều chỉnh tiêu chí tuyển dụng. Từ giữa năm 2026, nhà trường ưu tiên tuyển dụng các ứng viên đã có bằng tiến sĩ hoặc đang là nghiên cứu sinh. Việc nâng chuẩn ngay từ đầu vào giúp giảm áp lực đào tạo nâng chuẩn đội ngũ và rút ngắn thời gian đạt chuẩn.

Song song với đó, nhà trường triển khai các giải pháp mang tính “quản trị đội ngũ”, gồm rà soát, lập danh sách cụ thể và yêu cầu giảng viên thuộc diện chuẩn hóa xây dựng kế hoạch học tập rõ ràng. Đối với nhóm giảng viên lớn tuổi, gần đến tuổi nghỉ hưu, GS.TS Lê Văn Huy cho biết nhà trường không đặt yêu cầu bắt buộc phải có bằng tiến sĩ, mà tạo điều kiện để họ tiếp tục công tác. Đây được xem là giải pháp dung hòa giữa yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ và yếu tố nhân văn trong quản lý nhân sự.

nhung-cach-lam-linh-hoat-3.jpg
Giảng viên Trường Cao đẳng Lương thực – Thực phẩm làm việc tại phòng thí nghiệm Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Saga (Nhật Bản) theo chương trình học bổng hỗ trợ nghiên cứu sau tiến sĩ. Ảnh: NTCC

​Cân bằng giữa chuẩn và chất lượng thực

Theo bà Lê Thị Khánh Chi - Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Ý - Việt (Đà Nẵng), đối chiếu với các yêu cầu về đội ngũ theo Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn của nhà trường hiện mới chỉ khoảng 30%. Nguyên nhân xuất phát từ sự “lệch pha” giữa yêu cầu về hồ sơ và năng lực thực tế.

“Nhiều người có tay nghề tốt nhưng lại thiếu bằng cấp, chứng chỉ theo quy định. Ngược lại, có người đủ bằng cấp nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực hành”, bà Chi nêu thực tế.

Đối với các ngành đặc thù như Bếp, Công nghệ ô tô hay Nhà hàng - Khách sạn, kỹ năng thực tiễn là yếu tố mang tính quyết định. Bà Chi phân tích, để học sinh ra trường có thể làm việc ngay tại doanh nghiệp, giáo viên trước hết phải là những người từng trải qua thực tế sản xuất, có khả năng xử lý các tình huống phát sinh ngoài giáo trình.

“Ví dụ như nghề Bếp hay Công nghệ ô tô, giáo viên phải thực sự làm nghề tại doanh nghiệp thì mới có thể giảng dạy cho học sinh ra nghề được. Nếu chỉ dạy lý thuyết mà không có kinh nghiệm xử lý máy móc, tình huống thực tế thì học sinh khó có thể đáp ứng yêu cầu công việc”, bà nói. Ngay cả với ngành Pha chế hay Nhà hàng, quy trình đào tạo cũng phải bám sát thực tế doanh nghiệp 3 sao mới đáp ứng yêu cầu.

Tuy nhiên, lực lượng chuyên gia lành nghề này lại thường thiếu các chứng chỉ sư phạm hoặc bằng cấp chuyên môn theo đúng ngạch bậc quy định trong Thông tư. Sự “lệch pha” giữa “chuẩn giấy tờ” và “chuẩn nghề nghiệp” đang đặt ra bài toán khó: nếu siết chặt theo quy định có thể thiếu hụt giáo viên, còn nếu nới lỏng lại khó bảo đảm tính thống nhất của hệ thống. Hiện nhà trường đang hỗ trợ giáo viên đi học bổ sung để hoàn thiện bằng cấp, song quá trình này cần thời gian và lộ trình phù hợp, không thể thực hiện ngay.

Để giải quyết bài toán này, Trường Trung cấp Ý - Việt lựa chọn phương án linh hoạt, chấp nhận “hy sinh” một phần tính chủ động trong quản lý để đổi lấy chất lượng đào tạo. Nhà trường vừa tuyển thêm giáo viên đạt chuẩn, vừa chuyển những chuyên gia giỏi nghề nhưng thiếu bằng cấp sang chế độ thỉnh giảng, đồng thời hỗ trợ họ tham gia đào tạo bổ sung nếu có nguyện vọng hoàn thiện chuẩn.

Bà Chi nhấn mạnh: “Mục tiêu cuối cùng là học viên ra trường phải làm được việc, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Nếu không đào tạo được như vậy, hoạt động giáo dục nghề nghiệp sẽ không thể phát triển bền vững”.

nhung-cach-lam-linh-hoat-1.jpg
Học viên Trường Trung cấp Ý – Việt thực hành tạo mẫu tóc dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Ảnh: NTCC

​Điều tiết nhân lực ngành gần

Ông Nguyễn Văn Đức - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lương thực – Thực phẩm (Đà Nẵng), cho biết việc đánh giá chuẩn giáo viên là hoạt động được thực hiện thường niên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trước đây, một trong những “điểm nghẽn” lớn là yêu cầu chứng chỉ kỹ năng nghề đối với giáo viên lý thuyết hạng III. Việc cấp chứng chỉ phụ thuộc vào cơ quan quản lý, trong khi nhiều ngành như Kế toán chưa tổ chức đánh giá, khiến giáo viên gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ.

Từ năm 2024, quy định được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Theo đó, giáo viên có bằng kỹ sư hoặc cử nhân đúng chuyên ngành không còn bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề. Nhờ thay đổi này, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn của Trường Cao đẳng Lương thực – Thực phẩm tăng từ khoảng 50% lên gần 90%.

Tuy nhiên, theo ông Đức, với đặc thù của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bài toán đội ngũ không chỉ dừng lại ở tiêu chí hồ sơ. Thực tế tuyển sinh cho thấy sự lệch pha giữa năng lực đào tạo và nhu cầu người học gắn với thị trường lao động. Tình trạng thừa giáo viên ở các ngành khó tuyển sinh và thiếu hụt ở các ngành “hot” gần như diễn ra thường xuyên hằng năm.

Để bảo đảm kế hoạch đào tạo, nhà trường phải điều động nhân lực giữa các “ngành gần”. Những giáo viên thuộc ngành ít người học được tạo điều kiện bồi dưỡng, chuyển sang giảng dạy lĩnh vực liên quan. Ông Đức dẫn ví dụ: “Những năm gần đây, ngành Công nghệ thực phẩm tăng quy mô tuyển sinh theo nhu cầu người học, chúng tôi đã điều động giáo viên từ ngành Công nghệ sinh học sang hỗ trợ. Dù chưa hoàn toàn đáp ứng ‘chuẩn cứng’ của chuyên ngành, đây là giải pháp cần thiết để điều tiết tình trạng thừa - thiếu giáo viên cục bộ”.

Trong giáo dục nghề nghiệp, theo ông Đức, chuẩn đạt không thể tách rời năng lực thực tế. Một giáo viên đủ bằng cấp nhưng không cập nhật kiến thức, thiếu trải nghiệm thực hành thì hiệu quả giảng dạy khó bảo đảm. Ngược lại, giáo viên dạy “ngành gần”, nếu có nền tảng tốt, chủ động cập nhật chuyên môn và vững kỹ năng sư phạm, vẫn có thể truyền đạt hiệu quả. “Có những giáo viên dạy ngành gần nhưng nhờ cập nhật kiến thức, giảng dạy còn hiệu quả hơn người đủ tiêu chuẩn nhưng thiếu đổi mới”, ông nhận định.

Từ thực tiễn triển khai, có thể thấy chuẩn hóa không chỉ là hoàn thiện hồ sơ, mà là quá trình nâng cao năng lực thực chất của đội ngũ giảng viên. Khi chính sách được điều chỉnh theo hướng linh hoạt và các cơ sở đào tạo chủ động thích ứng, chuẩn nghề nghiệp dần tiệm cận hơn với yêu cầu thực tiễn đào tạo.

Việc điều chỉnh chính sách theo hướng bám sát thực tiễn, đặc biệt là trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong việc thành lập Hội đồng đánh giá kỹ năng nghề, đang mang lại những thuận lợi rõ rệt. Các cơ sở đào tạo chủ động hơn trong việc công nhận năng lực đội ngũ, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các kỳ đánh giá tập trung. Đây được xem là bước đi phù hợp thực tế, góp phần khơi thông chính sách và thúc đẩy tinh thần tự đào tạo, tự đổi mới của đội ngũ giáo viên. - Ông Nguyễn Văn Đức - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lương thực - Thực phẩm

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/chuan-nghe-nghiep-giang-vien-giao-vien-so-cap-trung-cap-nhung-cach-lam-linh-hoat-post777886.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/chuan-nghe-nghiep-giang-vien-giao-vien-so-cap-trung-cap-nhung-cach-lam-linh-hoat-post777886.html
Bài liên quan
Ban hành mới chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học
Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học (Thông tư 26).

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Chuẩn nghề nghiệp giảng viên, giáo viên sơ cấp, trung cấp: Những cách làm linh hoạt