Văn hóa

Điều ít biết về 2 ngôi mộ cổ bị xiềng ở Đà Nẵng (Kỳ cuối)

Bảo Thi • 28/10/2026 10:14

Về ngôi mộ cổ bị xiềng ở làng Khê Lâm, xã Hòa Sơn cũng có rất nhiều bí ẩn...

Phải đến sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền Việt Minh của huyện Hòa Vang đến làm lễ phá xiềng thì nhiều người mới tỏ tường danh phận của người nằm dưới mộ. Trước đó, không những không ai dám bén mảng đến gần ngôi mộ mà nhiều người cũng chỉ rỉ tai nhau rằng, ngôi mộ bị xiềng xích sắt ấy chính là mộ phần của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch – một người chống Pháp và ủng hộ triệt để phong trào cần vương. Có một câu chuyện mà cho đến bây giờ người dân làng Khê lâm, xã Hòa Sơn vẫn còn kể cho các thế hệ hậu sinh nghe về ngôi mộ cổ. Ngày đó, ở làng Khê Lâm có ông Xã Sáu (ông Xã Sáu tên thật là Nguyễn Hữu Dụng) là cháu nội của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch.

Đương thời, nhiều người đã lân la đến hỏi thăm ông Xã Sáu rằng ngôi mộ bị xiềng có phải là mộ của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch hay không? Thì được ông Xã Sáu trả lời là không phải. Tuy nhiên, hàng năm, người ta vẫn thấy ông Xã Sáu đến chăm sóc ngôi mộ bị xiềng này cho đến lúc danh tánh của người dưới mộ được công khai.

Theo tác giả Lâm Quang Thạnh (chắt ngoại của Quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch) trong bài “Gương hiếu học, yêu nước của một triều thần” thì Nguyễn Hữu Lịch thường được gọi là Quan Khâm, quê ở làng Khê Lâm, tổng Phước Tường thượng (nay là xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng).Tổ tiên của ông vốn là người đất Hải Dương theo chân vua Lê Thánh Tông vào nam mở cõi và ngụ lại ở làng Thanh Quýt, thuộc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (cũ). Đến đời thứ 8, ông Nguyễn Hữu Sao di cư đến vùng đất bán sơn địa nằm về phía Tây Bắc của huyện Hòa Vang để khai hoang lập hóa và được sắc phong là tiền hiền của làng Khê Lâm. Ông có 6 người cháu nội, người thứ 3 là Nguyễn Hữu Lịch rất ham học và được thân sinh là ông Nguyễn Hữu Thành rất ưu tiên, chắt chiu từng đồng bạc để lo cho chuyện học hành. Ở nơi sinh cơ lập nghiệp không có thầy giỏi, ông Thành khăn gói mang con về quê cũ ở Thanh Quýt để tìm thầy. Rồi Nguyễn Hữu Lịch xin cha vượt sông Túy Loan, vào tận Đại Lộc để tìm thầy giỏi xin theo học. Năm 1868, Lần thứ hai Nguyễn Hữu Lịch vượt Ải vân quan để ra kinh ứng thi và đỗ cử nhân. Người học trò nghèo đã trở về quê nhà trong sự đón đãi của dân làng vô cùng trịnh trọng. Sau đó, ông trở lại kinh đô để nhận nhiệm vụ ở Bộ Binh dưới trướng của thượng thư Tôn Thất Thuyết, rồi dần thăng đến chức lang Trung.

mo-quan-kham.jpg
Mộ của Lang Trung Nguyễn Hữu Lịch và phu nhân

Ông Lâm Quang Thạnh kể rằng: Mỗi lần ở Huế về thăm nhà, người dân quê đều cảm phục đức độ của ông với tổ tiên, ông bà và bà con hàng xóm. Lần đầu về quê bằng kiệu qua đèo Hải Vân, vào đến quê mẹ Khánh Sơn là ông xuống kiệu đi bộ. Dân làng lấy chiếu trải xuống đường đón rước, ông không bước lên chiếu và ôn tồn nói: “Các cụ, các bác đừng làm thế, tôi là cháu ngoại làng ta, con cháu trong nhà cả mà”. Dân làng cảm động không giữ lễ nghi cách biệt nữa. Với giới trẻ, ông khuyên cố gắng học hành, quê mình nghèo, nước mình đang gặp nạn cần đến tài năng tuổi trẻ. Ông luôn nhấn mạnh đến quốc nạn. Lúc bấy giờ quân Pháp đã chiếm xong lục tỉnh Nam Kỳ và đưa quân ra đánh Bắc Kỳ. Trong triều đình thì chia làm 2 phái chủ chiến và chủ hòa, ông tích cực đứng về phái chủ chiến của Thượng thư Tôn Thất Thuyết. Giữa lúc đó, vua Tự Đức băng hà, quân Pháp thừa cơ kéo hạm đội đến đánh chiếm cửa biển Thuận An, khiến triều đình hoảng hốt ký Điều ước Hác-măng nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và cắt 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh nhập vào Bắc Kỳ trao cho quân Pháp. Phái chủ hòa đành phải đầu hàng. Quân Pháp lấn tới, đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2, buộc triều đình phải ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam. Để xoa dịu phái chủ chiến, Hiệp ước Pa-tơ-nốt có điều khoản trả lại 3 tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh cho Trung Kỳ. Nhân cơ hội đó, Thượng thư Tôn Thất Thuyết tiến cử Lang Trung Nguyễn Hữu Lịch làm Khâm sai Thanh-Nghệ-Tĩnh sung Đổng lý tỉnh Thanh Hóa. Phái chủ hòa cho đó cũng là dịp phân tán lực lượng của phái chủ chiến nên cũng thuận tình không phản đối. Ra Thanh Hóa, quan Khâm Nguyễn Hữu Lịch bắt tay ngay thực hiện kế hoạch chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông đã xây dựng nhiều đồn sơn phòng, ở miền Tây cả ba tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh, lập các đội quân “Đoàn kiệt” và “Phấn nghĩa” ra sức luyện tập chờ ngày quyết chiến với quân thù. Trên cương vị Khâm sai, ông đã vào Hà Tĩnh viếng thăm Tiến sĩ Phan Đình Phùng cùng làm quan trong triều vì xung đột giữa phái chủ chiến và chủ hòa phế lập các vua, bị cách chức về quê. Đến khi vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống hịch Cần Vương, Phan Đình Phùng hưởng ứng phất cờ khởi nghĩa ở Hương Khê; Phạm Bành, Đinh Công Tráng khởi nghĩa ở Ba Đình, Thanh Hóa, ông đã có nhiều hoạt động bí mật hỗ trợ. Ông đã dồn sức giúp đỡ xây dựng một cứ điểm kiên cố để chỉ đạo thống nhất toàn tỉnh và một căn cứ hậu bị đề phòng rút lui khi cần. Đó là cứ điểm Ba Đình giữa vùng chiêm trũng mênh mông và căn cứ sơn phòng Mã Cao trên vùng núi trùng điệp phía tây.

Năm 1887, nghĩa quân Thanh Hóa thất bại ở Ba Đình rút lên Mã Cao, thực dân Pháp cũng bị thiệt hại nặng nề khi phải huy động đến 3.000 quân thuộc mọi binh chủng, có trọng pháo và pháo hạm yểm hộ ngày đêm vây hãm mới đánh chiếm được Ba Đình. Chúng đã hèn mạt trả thù bằng cách triệt hạ cả 3 làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh xóa tên trên bản đồ của Nam Triều và bắt triều đình hoạch tội Đổng lý Nguyễn Hữu Lịch bằng bản án tuyên vắng mặt “Tam ban triều điển” (gồm chén thuốc độc, một dải lụa để tự thắt cổ và một thanh kiếm để tự sát). Ông đã bình thản đón nhận 3 vật “tam ban” từ Huế mang ra (do vua Đồng Khánh ban cho để tự chọn). Không hướng về Kinh Thành mà hướng về căn cứ sơn phòng Phú Gia (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) nơi vua Hàm Nghi đang ngự tránh, bên cạnh khu Ngàn Trươi của nghĩa quân Phan Đình Phùng kính cẩn vái lạy. Song, ông quay lại phía thuộc hạ lưu luyến làm hiệu vĩnh biệt rồi bưng “tam ban” vào phòng đóng chặt cửa. Sáng hôm sau phá cửa vào thấy ông đã dùng kiếm tự sát trong tư thế ngồi uy nghi lẫm liệt. Một cái chết bi hùng kết thúc cuộc đời cương trực của một chí sĩ chống Pháp kiên cường giữa chốn triều đình bán nước. Ấy là vào năm Đinh Hợi – 1887 trước năm Hàm Nghi sa vào lưới giặc rồi bị đày sang Algerie. Những ngày sau đó, một thuộc hạ thân cận của ông đã cẩn thận đánh dấu phần mộ, nhưng mãi năm sau mới dám lặng lẽ đưa con trai ông là Nguyễn Hữu Sinh từ Quảng Nam lặn lội ra Thanh Hóa nhận mộ. Một nấm cỏ xanh rờn giữa bốn bề vắng lặng, không bia mộ, không hương khói trong thành nội Thanh Hóa…Phải chờ đến hết đời Đồng Khánh đến vua Thành Thái khi các cuộc khởi nghĩa của Phong trào Cần vương ở Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh chấm dứt, con cháu ông mới bí mật ra Thanh Hóa bốc mộ đưa hài cốt về Khê Lâm. Mộ ông ở quê nhà cũng chỉ là mộ đất không đặt bia để giữ bí mật nhưng không ngờ một hôm quân lính triều đình đã mang xiềng xích sắt và tập hợp hương hào, tổng lý kéo đến xiềng mộ ông giao cho địa phương quản thúc phần hài cốt lẫn vong linh.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng huyện Hòa Vang đã cử đoàn cán bộ, chiến sĩ về làm lễ phá xiềng, trả lại mộ cho con cháu, trả lại tên cho con cháu dựng bia, trả lại công bằng cho Quan Khâm là nhà yêu nước.

Bài liên quan
ĐIỀU ÍT BIẾT VỀ 2 NGÔI MỘ CỔ BỊ XIỀNG Ở ĐÀ NẴNG (KỲ 1)
Từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20, những cư dân sinh sống ở vùng đất nằm về phía Tây Bắc Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã phát hiện thấy sự kỳ lạ của 2 ngôi mộ cổ bị xiềng xích sắt...

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Điều ít biết về 2 ngôi mộ cổ bị xiềng ở Đà Nẵng (Kỳ cuối)