Để hiện thực hóa Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp đầu tư phù hợp cho giáo dục đại học, trong đó bao gồm các chính sách về tài chính, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm tạo nền tảng phát triển lâu dài và bền vững.

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Quốc hội TP Hà Nội và Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) đã mở ra giai đoạn đổi mới quan trọng, với nhiều cơ chế và chính sách mang tính nền tảng, dài hạn cho phát triển nguồn nhân lực quốc gia. Một điểm nổi bật của Nghị quyết là tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.
Các quy định cho phép góp vốn bằng tài sản trí tuệ, hình thành doanh nghiệp spin-off, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, cùng với các cơ chế ưu tiên về đầu tư và quỹ đất được xem là những giải pháp mang tính đột phá. Những cơ chế này giúp các trường đại học không chỉ dừng lại ở vai trò đào tạo, nghiên cứu mà còn từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thêm nguồn lực cho phát triển bền vững.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới tích cực, đại biểu Nguyễn Thị Lan thẳng thắn chỉ ra một vấn đề chiến lược, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết hiện nay, đó là phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực nông nghiệp và các ngành thiết yếu liên quan.
Theo bà, đây là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, an ninh lương thực, sinh kế của hàng chục triệu người dân và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nhưng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút người học.

GS.TS Nguyễn Thị Lan cho biết vẫn còn “khoảng trống chính sách” đáng lưu ý đối với lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Thực tế cho thấy khu vực này đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng chưa được đặt đúng vị trí trong các ưu tiên chiến lược về đào tạo và sử dụng nhân lực.
Nhiều năm qua, hàng loạt ngành được coi là “xương sống” của nông nghiệp Việt Nam như: Khoa học đất, khoa học cây trồng, chăn nuôi, bảo vệ thực vật, kinh tế – kinh doanh nông nghiệp, phát triển nông thôn, khuyến nông, phòng chống thiên tai, thủy sản, lâm nghiệp… đều gặp khó khăn trong tuyển sinh.
Ngay cả những ngành then chốt trong chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại như: Công nghệ sau thu hoạch, kỹ thuật tài nguyên nước cũng không ngoại lệ. Trong khi đó, nhu cầu xã hội và doanh nghiệp đối với các ngành này rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp vất vả, môi trường làm việc nhiều thách thức, thu nhập chưa tương xứng, trong khi các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người học lựa chọn ngành nghề còn thiếu và chưa đủ mạnh. Điều này khiến các ngành nông nghiệp, dù có vai trò sống còn đối với phát triển bền vững của đất nước, vẫn chưa tạo được sức hút đối với người trẻ.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho hay nhiều quốc gia đã thành công trong việc thu hút nhân lực cho các lĩnh vực khó bằng những chính sách mang tính mục tiêu và dài hạn.
Các nước như Hàn Quốc, Singapore, Israel, Australia hay nhiều quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đã triển khai hiệu quả các giải pháp như học bổng theo ngành ưu tiên, cam kết việc làm sau tốt nghiệp, đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp, phụ cấp nghề nghiệp, cũng như tái định vị hình ảnh xã hội của ngành nghề. Khi có chính sách đủ mạnh và nhất quán, ngay cả những lĩnh vực vốn ít hấp dẫn cũng có thể thu hút đông đảo người học và đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng cần triển khai các cơ chế ưu tiên cụ thể cho lĩnh vực nông nghiệp và các ngành thiết yếu. Trong đó, nên có học bổng mục tiêu theo ngành, tín dụng ưu đãi gắn với cam kết làm việc, cơ chế đặt hàng đào tạo từ Nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời đầu tư mạnh mẽ cho hệ thống phòng thí nghiệm, mô hình thực hành và cơ sở nghiên cứu hiện đại. Việc tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng được xem là giải pháp then chốt, vừa nâng cao chất lượng đào tạo, vừa bảo đảm đầu ra và tạo niềm tin cho người học.
Bên cạnh các chính sách ưu đãi trực tiếp, đại biểu Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực quốc gia theo ngành và lĩnh vực. Hiện nay, quy mô đào tạo còn phụ thuộc nhiều vào tín hiệu thị trường mang tính tự phát, dẫn đến tình trạng lệch pha cung – cầu.
Có những ngành thu hút đông người học nhưng khả năng hấp thụ của thị trường lao động lại hạn chế, trong khi nhiều lĩnh vực thiết yếu liên quan đến an ninh lương thực, quản lý tài nguyên, phòng chống thiên tai và phát triển nông nghiệp bền vững lại thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao.
Theo đại biểu, kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Singapore cho thấy hệ thống dự báo nhân lực quốc gia theo ngành và nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh quy mô đào tạo, phân bổ nguồn lực và định hướng phát triển giáo dục – đào tạo.
Vì vậy, cần giao Chính phủ xây dựng và công bố định kỳ các dự báo nhân lực quốc gia, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương và cơ sở đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp, góp phần cân đối cung – cầu lao động và phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Nghị quyết số 71 tiếp tục khẳng định giáo dục là “quốc sách hàng đầu” và nhấn mạnh yêu cầu thiết lập các cơ chế “đặc thù, vượt trội” nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở tầm nhìn chiến lược này, PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần tiếp cận bằng những nhóm giải pháp trọng tâm, có cơ sở khoa học và thực tiễn, dựa trên phân tích kinh nghiệm quốc tế cũng như nhu cầu phát triển trong nước.
Một trong những trụ cột quan trọng được PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh là tài chính đại học. Theo ông, để thực hiện thành công tự chủ đại học và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu, cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính. Bên cạnh việc tăng trích ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học, hướng tới mức 1,5–2% GDP, cần khuyến khích hình thành các quỹ tự chủ đại học đi kèm chính sách tài trợ minh bạch, ổn định và dài hạn.
Những quỹ này có thể được hình thành từ đóng góp của doanh nghiệp, cựu sinh viên thành đạt và các tổ chức xã hội, qua đó hỗ trợ học bổng, nghiên cứu khoa học và các hoạt động học thuật trọng điểm.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hợp tác công - tư trong nghiên cứu và giáo dục là xu hướng tất yếu. Nhiều quốc gia đã triển khai thành công mô hình doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu, thậm chí chi trả lương cho giảng viên để cùng thực hiện các dự án chung.
Những mô hình này không chỉ gia tăng nguồn lực tài chính mà còn rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Tuy nhiên, tự chủ tài chính phải luôn đi đôi với trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đại học.
Bên cạnh tài chính, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo được xem là động lực then chốt để nâng tầm giáo dục đại học. PGS.TS Trần Thành Nam gợi mở cần tiếp tục đột phá các cơ chế khuyến khích công bố quốc tế và đăng ký sáng chế, gắn chặt với các chỉ tiêu khoa học – công nghệ mà Nghị quyết 71 đã đề ra. Việc tăng chỉ tiêu kinh phí nghiên cứu hằng năm cần được thực hiện song hành với cơ chế đánh giá kết quả đầu ra, nhằm tạo động lực thực chất cho đội ngũ giảng viên và nhà khoa học.
Ông cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh liên kết nghiên cứu công – tư, đồng thời đầu tư xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung như phòng thí nghiệm, cụm công nghệ và trung tâm nghiên cứu liên ngành để nhiều cơ sở giáo dục đại học cùng khai thác.
Kinh nghiệm từ Singapore và Trung Quốc cho thấy việc thành lập các trung tâm xuất sắc liên kết giữa đại học và doanh nghiệp theo các lĩnh vực ưu tiên quốc gia như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo… đã tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.
Một giải pháp đáng chú ý khác được PGS.TS Trần Thành Nam đề cập là chính sách “giảng viên đồng cơ hữu”. Theo đó, cần mở rộng cơ chế cho phép các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia giảng dạy kiêm nhiệm tại các trường đại học.
Đây là cách làm hiệu quả để bổ sung nguồn tri thức chất lượng cao, tăng cường mạng lưới nghiên cứu quốc tế và tạo môi trường học thuật đa dạng cho người học. Nếu triển khai đồng bộ, chính sách này sẽ giúp các trường đại học Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với tri thức tiên tiến của thế giới.
Nhấn mạnh vai trò của Nghị định số 249/2025/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách thu hút và trọng dụng chuyên gia khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng đây là khung pháp lý nền tảng, tạo điều kiện quan trọng để thu hút nguồn nhân lực trình độ cao, trong đó có đội ngũ giảng viên và nhà khoa học quốc tế tham gia vào hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là cần triển khai Nghị định này một cách quyết liệt, đồng bộ, gắn với các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng.

Nghị quyết số 71 xác định dành ít nhất 20% tổng chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục, đồng thời quy định nhiều chế độ ưu đãi lớn đối với đội ngũ nhà giáo. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Viện trưởng Viện Công nghệ tiên tiến và Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Hùng Vương TPHCM nêu quan điểm, việc tăng đầu tư cho giáo dục và nhà giáo không chỉ thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng, mà còn là giải pháp cụ thể, mang tính quyết định để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển giáo dục đã được đề ra.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguồn lực tài chính được bảo đảm sẽ tạo điều kiện quan trọng để hiện đại hóa nhà trường, khắc phục tình trạng chênh lệch về điều kiện dạy và học, hướng tới mục tiêu “trường ra trường, lớp ra lớp”.
Khi có đầu tư thỏa đáng, các cơ sở giáo dục sẽ được trang bị cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, đồng thời thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong nhà trường, gắn chặt hơn với doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn.
Ngoài ra, các giải pháp tài chính mà Nghị quyết 71 đề ra chính là “đòn bẩy” quan trọng, tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, từ đó đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục Việt Nam.
Đặc biệt, khi được triển khai đồng bộ với Nghị quyết 57, Nghị quyết 71 sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho việc xây dựng các mô hình đại học mới như đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới, đóng vai trò nòng cốt và “đầu tàu” dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây là những bước đi quan trọng, đáp ứng kỳ vọng của xã hội đối với một nền giáo dục hiện đại, tiên tiến và bền vững.
Tại Lễ kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 và Đại hội Thi đua yêu nước ngành Giáo dục lần thứ VIII, Chủ tịch nước Lương Cường đã nêu tám nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hiện đại hóa và nâng tầm giáo dục đại học nhằm tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và nhân tài, đồng thời đóng vai trò dẫn dắt nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, cần tăng cường đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, mở rộng không gian phát triển để các trường đại học hoạt động hiệu quả; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế; đồng thời gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, qua đó nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), chỉ khi các nhóm giải pháp về tài chính, nghiên cứu – đổi mới sáng tạo và phát triển đội ngũ được triển khai một cách nhất quán, giáo dục đại học Việt Nam mới có thể tận dụng hiệu quả cơ hội từ Nghị quyết 71, tạo bước chuyển thực chất về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.