Sau khi đại phá quân Thanh và lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung chọn Nghệ An để xây dựng kinh đô với tầm nhìn chiến lược.

Thế nhưng, đại nghiệp chưa thành thì ông đột ngột băng hà, để lại giấc mơ đế vương dang dở và niềm tiếc nuối khôn nguôi cho hậu thế.
Lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII đầy biến động với những cuộc phân tranh, đất nước chia cắt. Nhưng chính trong giai đoạn hỗn mang ấy, một ngôi sao sáng đã xuất hiện: Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Không chỉ là thiên tài quân sự với những chiến công thần tốc, ông còn là nhà kiến tạo đại tài với tầm nhìn đi trước thời đại. Một trong những minh chứng rõ nét nhất cho tư duy chiến lược ấy chính là quyết định xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Nghệ An. Dù giấc mơ ấy dang dở, nhưng những gì còn lại trên núi Dũng Quyết hôm nay vẫn kể câu chuyện về một khát vọng thống nhất non sông vĩ đại.
Ngược dòng lịch sử trở về năm 1771, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ tại Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) như một cơn bão quét sạch sự rệu rã của chế độ phong kiến đàng Trong, lẫn đàng Ngoài. Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã làm nên điều kỳ diệu, chấm dứt cục diện Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài hàng thế kỷ, xóa bỏ ranh giới sông Gianh chia cắt đất nước.
Tuy nhiên, sau khi đại phá quân Thanh (năm 1789) và lên ngôi Hoàng đế, Quang Trung đối mặt với bài toán hóc búa về địa chính trị. Trong khi thành Phú Xuân (Huế) là căn cứ địa vững chắc nhưng lại nằm quá xa về phía Nam, khiến việc quản lý Bắc Hà trở nên khó khăn. Còn thành Thăng Long (Hà Nội) tuy là kinh đô hàng trăm năm nhưng lòng người chưa hoàn toàn quy phục nhà Tây Sơn.
Trong bối cảnh đó, vua Quang Trung nhận thấy Nghệ An như một yết hầu của đất nước. Theo cuốn Hoàng Lê nhất thống chí, vua Quang Trung cho rằng, trấn Nghệ An ở chính giữa nước, đường sá từ Nam ra, từ Bắc vào đều vừa bằng nhau.
Trong tờ chiếu vua mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về việc định đô tại Nghệ An có viết: “Nay kinh Phú Xuân thì hình thế cách trở, ở xa Bắc Hà, sự thế rất khó khăn. Theo đình thần nghị rằng, chỉ đóng đô ở Nghệ An là quãng đường vừa phải, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ làm cho người tứ phương đến triều kiến, tiện việc đi về”. Tòa thành này được gọi là Phượng Hoàng Trung Đô, hay còn gọi là Trung kinh Phượng Hoàng thành.
Nhưng sâu xa hơn, sự lựa chọn này còn bắt nguồn từ yếu tố lòng người và cội nguồn. Ít ai biết rằng, người anh hùng Tây Sơn ấy mang trong mình dòng máu xứ Nghệ. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tổ tiên của Nguyễn Huệ vốn họ Hồ ở làng Thái Lão, huyện Hưng Nguyên (nay là xã Hưng Nguyên, Nghệ An), bị chúa Nguyễn bắt đưa vào Bình Định khai hoang.
Việc vua Quang Trung chọn đất tổ để đóng đô không chỉ là lá rụng về cội, mà còn là nước cờ cao tay để thu phục nhân tâm. Xứ Nghệ, mảnh đất gió Lào cát trắng, vốn nổi tiếng với những con người can trường, trung dũng. Lịch sử đã chứng minh, mỗi khi vận nước lâm nguy, xứ Nghệ luôn là thành trì vững chắc. Vua Trần Nhân Tông từng tin cậy vào “Hoan Diễn do tồn thập vạn binh” (Hoan Diễn đang còn mười vạn quân). Tướng Nguyễn Chích từng hiến kế cho Lê Lợi đánh vào Nghệ An để làm bàn đạp giải phóng giang sơn.
Vua Quang Trung hiểu rằng, đặt kinh đô ở Nghệ An, ông sẽ có được sự ủng hộ tuyệt đối của một vùng đất địa linh nhân kiệt, làm bàn đạp vững chắc để giữ yên bờ cõi.

Vị trí được Nguyễn Huệ chọn để xây thành là vùng đất kẹp giữa núi Dũng Quyết (Phượng Hoàng) và núi Kỳ Lân (núi Mèo), nay thuộc phường Trường Vinh, Nghệ An.
Theo phong thủy, núi Dũng Quyết sừng sững với 4 chi mạch tỏa ra như bốn linh vật chầu về: Long thủ (đầu rồng), Phượng dực (cánh phượng), Kỳ Lân và Quy bối (lưng rùa). Đây chính là thế đất “tứ linh” hiếm có. Về quân sự, nơi đây là yết hầu của con đường thiên lý Bắc - Nam, thủy bộ đều thuận tiện, dễ thủ khó công.
Dòng sông Lam, con sông đẹp nhất xứ Nghệ chảy từ đại ngàn Trường Sơn về, khi đến chân núi Quyết uốn mình ôm lấy chân núi trước khi đổ ra biển Cửa Hội. Sự giao hòa giữa khí thiêng sông núi đã tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình, vừa uy nghiêm vừa thơ mộng, xứng tầm đế đô.
Ngay sau khi quyết định, Quang Trung đã giao cho Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Thận cùng La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đốc thúc việc xây thành. Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng khẩn trương từ năm 1788 - 1792.
Tòa thành được thiết kế hai vòng: Thành ngoại hình thang, chu vi 2.820m, tận dụng vách núi làm lũy; Thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong kiên cố, chu vi gần 1.680m. Bên trong là lầu Rồng cao 3 tầng, điện Thái Hòa - nơi dự kiến thiết triều, cùng các dãy nhà tả vu, hữu vu uy nghi.
Tên gọi Phượng Hoàng Trung Đô mang hàm ý sâu sắc. Phượng Hoàng là loài chim quý, cũng là tên núi. Trung Đô khẳng định vị thế trung tâm. Nếu Thăng Long là Bắc Thành, Phú Xuân là Nam Kinh, thì đây sẽ là trái tim của một nước Đại Việt thống nhất.
Thế nhưng, tháng 9/1792, khi kinh đô chưa hoàn thành trọn vẹn thì vua Quang Trung đột ngột băng hà. Vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi còn quá trẻ, thế lực suy yếu, không đủ khả năng dời đô nên tiếp tục đóng ở Phú Xuân.
Theo Đại Nam thực lục, cuối tháng 5/1802, thủy quân Nguyễn Ánh (1762 - 1820) đi tới cửa biển Đan Nhai (nằm giữa Nghệ An và Hà Tĩnh) tiến đánh và phá được đồn Quần Mộc. Quân bộ cũng tiến đến phía nam sông Lam rồi vượt sang bờ phía Bắc. Hai mặt thủy bộ đều tiến công, quân Tây Sơn thua trận.
Trấn thủ Nguyễn Văn Thận cùng với hiệp trấn Nguyễn Triêm, thống lĩnh Nguyễn Văn Đại, thiếu úy Đặng Văn Đằng phải bỏ thành chạy ra miền Bắc, quân Nguyễn Ánh chiếm hoàn toàn thành Nghệ An.
Sau khi nhà Nguyễn lên nắm quyền, với tư tưởng đối địch nhà Tây Sơn, kinh thành này bị lãng quên, thậm chí phá hủy để lấy vật liệu xây thành Nghệ An mới. Những lầu son gác tía chưa kịp ấm hơi người đã dần trở thành phế tích.
Một kinh đô lẽ ra phải rực rỡ, sầm uất bậc nhất thời bấy giờ, cuối cùng chỉ còn lại những mảng gạch cũ rêu phong và nền móng lẩn khuất trong cỏ dại. Phượng Hoàng Trung Đô trở thành “giấc mơ hóa đá”, để lại niềm tiếc nuối khôn nguôi cho lịch sử dân tộc.

Dù Phượng Hoàng Trung Đô có số phận ngắn ngủi, nhưng khát vọng và tầm nhìn của vua Quang Trung vẫn sống mãi. Ông muốn xây dựng một đất nước độc lập, tự chủ, giàu mạnh và Nghệ An là nơi được lựa chọn.
Đến nay, tuy những dấu tích còn lại về tòa thành không còn nhiều, nhưng nhờ những tư liệu tìm được có thể giúp hình dung phần nào về kinh đô dang dở này. Trải qua mưa nắng thời gian và sự phá hoại của con người, Phượng Hoàng Trung Đô chỉ còn dấu tích mờ nhạt.
Trong thời kỳ lịch sử cận, hiện đại, núi Dũng Quyết có đồn tiền tiêu chống Pháp xâm lược (1885), nơi thành lập Hội Phục Việt (1925) và là nơi diễn ra cuộc biểu tình ngày 1/5/1930 mở đầu cho cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931).
Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, nơi đây nằm giữa Trường Thi - Bến Thủy, là một trong những vị trí trọng điểm bị giặc ném bom, bắn phá ác liệt nhất. Trong khu vực này đã có 7 đơn vị, 5 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Máu xương của bao thế hệ đã thấm vào đất đai, hòa vào hồn thiêng sông núi.
Để tưởng nhớ công ơn của người anh hùng áo vải, và hiện thực hóa một phần tâm nguyện của ông trên đất Tổ, năm 2005, nhân kỷ niệm 220 năm ngày hạ chiếu xây thành, UBND tỉnh Nghệ An đã khởi công xây dựng Đền thờ Hoàng đế Quang Trung ngay trên đỉnh núi Dũng Quyết.


Công trình khánh thành năm 2008, tọa lạc ở độ cao 97m so với mực nước biển, thuộc chi Phượng Dực (cánh Phượng). Để lên tới đền, du khách bước qua 81 bậc đá uốn lượn như rồng cuộn. Quần thể đền thờ uy nghiêm với các hạng mục nghi môn, tiền điện, trung điện, thượng điện... Gỗ lim vững chãi, đá xanh mát lạnh, gạch Bát Tràng cổ kính tạo nên không gian tâm linh trầm mặc.
Tại đền có án thờ các văn thần, võ tướng triều Tây Sơn, và những người có công xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô. Đứng tại sân đền, phóng tầm mắt ra xa, ta thu trọn đô thị trung tâm tỉnh Nghệ An, dòng sông Lam hiền hòa và biển Cửa Lò bao la.
Ngày nay, Đền thờ vua Quang Trung không chỉ là một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, mà còn là điểm đến du lịch tâm linh hấp dẫn. Hàng năm, vào ngày 29/7 Âm lịch (ngày giỗ vua) và mùng 5 tháng Giêng (kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa), nhân dân khắp nơi lại nô nức trẩy hội về đây. Tiếng trống trận Tây Sơn vang lên giữa núi rừng, khơi dậy niềm tự hào dân tộc mãnh liệt trong lòng mỗi người con đất Việt.
Với những giá trị văn hóa và lịch sử, tháng 4/1962, Phượng Hoàng Trung Đô vinh dự là 1 trong 3 di tích đầu tiên của tỉnh Nghệ An được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.