Nhiệm kỳ 2021 - 2025 ghi dấu bước chuyển mạnh mẽ của giáo dục thường xuyên, khẳng định vai trò trụ cột quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Đây là nền tảng vững chắc, làm tiền đề cho giai đoạn phát triển mới, thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.
Ông Trần Quang Tứ - Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Giáo dục nghề nghiệp Ba Tri (Vĩnh Long) đánh giá: Nhiệm kỳ 2021 - 2025, giáo dục thường xuyên tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục thường xuyên đã tạo điều kiện cho nhiều đối tượng người học, nhất là người lao động, học sinh hoàn cảnh khó khăn, học sinh không đủ điều kiện theo học trường THPT được tiếp cận giáo dục, nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp.
Hệ thống các trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên duy trì ổn định, hoạt động linh hoạt, thích ứng kịp thời với những biến động lớn như dịch bệnh, khó khăn kinh tế - xã hội. Nhiều trung tâm phát triển mạnh về quy mô, qua đó bảo đảm quyền học tập của người dân.
Hoạt động dạy học trong cơ sở giáo dục thường xuyên cũng chuyển biến tích cực; nổi bật là tinh thần chủ động, linh hoạt của cơ sở. Nhiều trung tâm mạnh dạn đổi mới phương thức dạy học, kết hợp trực tiếp và trực tuyến, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy. Nhờ đó, hoạt động dạy học không bị gián đoạn, chất lượng giáo dục từng bước được giữ vững và nâng lên.
Bên cạnh đó, việc gắn giáo dục thường xuyên với giáo dục nghề nghiệp thông qua mô hình trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên phát huy hiệu quả rõ nét. Học sinh sau tốt nghiệp THCS có thể vừa học văn hóa giáo dục thường xuyên cấp THPT, vừa học trung cấp nghề, góp phần phân luồng học sinh sau THCS, đáp ứng nhu cầu học tập gắn với việc làm, nhất là ở khu vực nông thôn.
Cũng nhìn lại một nhiệm kỳ, ông Lê Văn Hòa - Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Tin học, Ngoại ngữ tỉnh Quảng Trị khẳng định bước chuyển mình mạnh mẽ của giáo dục thường xuyên khi không còn bó hẹp trong “xóa mù chữ”, mà trở thành một trụ cột quan trọng xây dựng xã hội học tập. Một số thành tựu nổi bật được ông Lê Văn Hòa nhấn mạnh như sau:
Thứ nhất, mở rộng quy mô, mạng lưới cơ sở đào tạo. Hệ thống trung tâm giáo dục thường xuyên phủ khắp tỉnh thành, đến cấp huyện, thuận lợi cho mọi tầng lớp nhân dân tiếp cận giáo dục. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của trung tâm học tập cộng đồng tại các xã, phường, thôn bản giúp người lỡ cơ hội học tập chính quy, người đi làm, người nội trợ, người cao tuổi cập nhật kiến thức.
Thứ hai, đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy. Giáo dục thường xuyên đã thoát khỏi tư duy “sao chép” hoàn toàn từ giáo dục phổ thông để phù hợp hơn với đối tượng người lớn. Chương trình giáo dục thường xuyên được xây dựng khá linh hoạt, nội dung học tập tinh giản, thiết thực, tập trung vào kỹ năng thực hành và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống.
Mô hình học văn hóa kết hợp học nghề tại các trung tâm giáo dục thường xuyên giúp học viên vừa tốt nghiệp THPT vừa có bằng nghề, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường lao động. Học sinh học chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT tăng nhanh ở địa bàn có công nghiệp, dịch vụ phát triển là bằng chứng cho thấy sự hấp dẫn của ngành học này.
Thứ ba, thành tựu trong xóa mù chữ, nâng cao dân trí. Trên nền tảng thành tựu trước đó, giáo dục thường xuyên tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng. Việt Nam luôn nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ người dân biết chữ cao (trên 95%). Bước đầu đã có sự quan tâm dạy các kỹ năng mới, như sử dụng máy tính, điện thoại, Internet, ngoại ngữ cơ bản, kỹ năng sống cho người dân vùng sâu, vùng xa, góp phần nâng cao dân trí.
Thứ tư, thúc đẩy phong trào “Học tập suốt đời”. Giáo dục thường xuyên đóng vai trò nòng cốt triển khai Đề án “Xây dựng xã hội học tập”, lan tỏa tinh thần tự học. Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời được tổ chức hàng năm, tạo hiệu ứng xã hội tích cực. Xây dựng các mô hình học tập tiêu biểu như “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” trở thành phong trào có chiều sâu.

Giai đoạn tới, trên nền tảng thể chế hoàn toàn mới, ông Lê Văn Hòa cho rằng, giáo dục thường xuyên cần tổ chức lại hệ thống, gắn với hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách. Cùng đó là đổi mới chương trình, phương pháp dạy học đi đôi với phát triển năng lực đội ngũ giáo viên; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đi đôi với đẩy mạnh chuyển đổi số.
Theo ông Lê Văn Hòa, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra rất nhanh, địa bàn nông thôn dân số giảm, nhu cầu học giáo dục thường xuyên còn rất ít. Nhiều trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên không tuyển sinh được học viên cấp THPT, hoặc có thì quy mô nhỏ. Trong khi thành phố lớn, các trung tâm giáo dục thường xuyên lại quá tải. Vì vậy, tổ chức lại hệ thống giáo dục thường xuyên là việc làm cấp bách để cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, vừa phục vụ sát nhu cầu học tập của người dân, vừa chống lãng phí.
Cần xây dựng lại Thông tư quy định về chức năng, nhiệm vụ của giáo dục thường xuyên theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, sát với thực tiễn địa phương. Ví dụ, trung tâm ở khu vực đô thị không phải làm công tác xóa mù chữ mà chuyển sang dạy bình dân học vụ số, các vùng trọng điểm du lịch thì triển khai dạy tiếng Anh giao tiếp...
Chú trọng tạo hành lang pháp lý để khẳng định giá trị của văn bằng giáo dục thường xuyên ngang với giáo dục chính quy trong tuyển dụng, thăng tiến. Cần quan tâm đến chế độ đãi ngộ cho giáo viên giáo dục thường xuyên và chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào hoạt động đào tạo tại chỗ cho người lao động.
“Chuyển đổi các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thành trường trung học nghề là hướng đi đúng đắn. Tuy nhiên, cần lộ trình, tính toán phù hợp để bảo đảm kế thừa cơ sở vật chất, đội ngũ và phải xuất phát từ nhu cầu về nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nguyện vọng thực chất của người học”, ông Lê Văn Hòa cho hay.
Liên quan đến đổi mới chương trình, phương pháp dạy học, ông Lê Văn Hòa lưu ý, xây dựng chương trình giáo dục thường xuyên phải hướng đến tính vừa sức, tính ứng dụng cao. Cụ thể, tập trung vào kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm, kỹ năng số; lược bỏ kiến thức hàn lâm không cần thiết; cá nhân hóa, cho phép người học lựa chọn chương trình, lộ trình học tập phù hợp với năng lực, nhu cầu thực tế công việc.
Về nhân lực, ông Lê Văn Hòa nhấn mạnh việc rà soát, đánh giá đúng năng lực đội ngũ giáo viên để thực hiện tinh giản biên chế, bồi dưỡng, đào tạo lại, tuyển dụng đội ngũ giáo viên giáo dục thường xuyên, nhất là giáo viên dạy nghề bảo đảm ngang tầm với nhiệm vụ. Tạo điều kiện để chuyên gia kỹ thuật, thợ lành nghề tham gia giảng dạy lĩnh vực dạy nghề tại trung tâm giáo dục thường xuyên, giúp học viên được học nghề thực thụ, giáo viên được trao đổi học tập kinh nghiệm, gắn lý thuyết với thực hành và giải quyết vấn đề thực tiễn.
Về cơ sở vật chất, nhất thiết phải quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và công nghệ, để trung tâm giáo dục thường xuyên khu vực liên xã trở thành trung tâm học tập của cộng đồng dân cư.
Giáo dục thường xuyên phải thực sự đi vào từng ngõ ngách của đời sống thông qua trung tâm học tập cộng đồng với hoạt động thực chất, gắn với các chương trình khuyến nông, khuyến công, chuyển đổi số và phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân. Khi các trung tâm này thực sự tạo được sức hút với người dân, chúng ta sẽ nâng cao được tinh thần học tập suốt đời và xây dựng thành công xã hội học tập.
Cuối cùng, ông Lê Văn Hòa cho rằng, giáo dục thường xuyên phục vụ đối tượng đa dạng, thường là vừa làm vừa học, do đó công nghệ số là chìa khóa để tạo độ phủ rộng khắp đến người học. Phải xây dựng kho học liệu số dùng chung, cho phép người học truy cập mọi lúc, mọi nơi. Phát triển các mô hình học tập trực tuyến và đào tạo từ xa chuẩn hóa để giảm chi phí, thời gian đi lại cho người học.
Giai đoạn tới, ông Trần Quang Tứ cũng nhấn mạnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thống nhất chủ trương quản lý, xây dựng chính sách riêng cho giáo dục thường xuyên; nhất là các quy định liên quan đến tổ chức bộ máy, biên chế, chế độ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và chính sách hỗ trợ người học, phù hợp với đặc thù của loại hình giáo dục này. Kế đến là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý thông qua bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm người lớn, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
“Giáo dục thường xuyên cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức dạy học theo hướng linh hoạt, thực chất và gắn với nhu cầu của người học. Chương trình cần chú trọng trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và yêu cầu học tập suốt đời. Song song đó, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng học liệu số, mở rộng các hình thức học tập linh hoạt, để giáo dục thường xuyên thực sự trở thành lựa chọn phù hợp, hấp dẫn đối với người học”, ông Trần Quang Tứ đề xuất.
“Nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và xã hội về vai trò của giáo dục thường xuyên chuyển biến tích cực. Công tác chỉ đạo, quản lý của Bộ GD&ĐT và địa phương ngày càng rõ ràng, thống nhất hơn. Giáo dục thường xuyên ngày càng tạo được niềm tin đối với phụ huynh học sinh, thu hút được sự quan tâm của người dân, xã hội và dần được nhìn nhận đúng là bộ phận không thể thiếu trong hệ thống giáo dục, góp phần đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục”, ông Trần Quang Tứ nhận định.