Chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn tới cần tạo ra những thay đổi căn bản trên ít nhất sáu phương diện sau.

Ngày 18/9/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký ban hành Quyết định số 1810/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là bước cụ thể hóa Điều 7 Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đột phá phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Việt Nam đang đứng trước thời cơ phát triển đặc biệt khi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mô hình quản trị và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học cần một tư duy phát triển mới, không chỉ phục vụ mà phải tham gia kiến tạo và dẫn dắt sự phát triển.
Trao đổi với phóng viên Báo Giáo dục và Thời đại, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, Chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn tới cần tạo ra những thay đổi căn bản trên nhiều phương diện: mô hình đại học, quản trị, đào tạo nhân lực STEM, nghiên cứu - phát triển, tự chủ và tự do học thuật, cũng như cơ chế thu hút và đãi ngộ nhân tài.

* Trước những yêu cầu phát triển mới, theo ông, đâu là vấn đề cốt lõi mà Chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam cần đặt ra?
- Việt Nam đang đứng trước một thời cơ phát triển đặc biệt. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mô hình quản trị và năng lực cạnh tranh của các quốc gia.
Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học không thể chỉ thay đổi từng phần, càng không thể tiếp tục vận hành chủ yếu theo mô hình truyền thụ kiến thức và cấp bằng như trước đây.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu của đất nước. Nghị quyết 71-NQ/TW tiếp tục đặt giáo dục đại học vào vị trí đặc biệt quan trọng, yêu cầu nâng các trường đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và đặt mục tiêu Việt Nam có đại học thuộc nhóm 100 hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực.
Theo tôi, đây là những định hướng lớn, rất đúng và rất trúng. Nhưng để biến khát vọng thành hiện thực, Chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn tới cần tạo ra những thay đổi căn bản.
Trước hết, mô hình của tương lai phải là “đại học đổi mới sáng tạo”. Đại học thế kỷ XXI không thể chỉ có hai chức năng truyền thống là đào tạo và nghiên cứu. Mô hình phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới phải được hình thành trên ba cấu thành hữu cơ: nghiên cứu, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
Nghiên cứu tạo ra tri thức. Chuyển đổi số tạo ra phương thức mới để tổ chức, quản trị, đào tạo và khai thác tri thức. Đổi mới sáng tạo biến tri thức thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và những giá trị mới cho xã hội. Ba cấu thành này phải được tích hợp thành một hệ sinh thái thống nhất.
Một trường đại học không có nghiên cứu mạnh sẽ chủ yếu truyền đạt những tri thức đã có. Một trường đại học không chuyển đổi số sẽ chậm thích ứng với phương thức đào tạo và quản trị mới. Còn một trường có nhiều nghiên cứu nhưng không hình thành được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thì tri thức rất khó đi hết con đường từ phòng thí nghiệm tới sản xuất và đời sống.
Nghị quyết 71 đã đặt đúng hướng khi yêu cầu thúc đẩy mô hình đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới; coi các trường đại học là đầu tàu của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vùng và thúc đẩy hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Tôi cho rằng đây phải trở thành mô hình chủ đạo, trước hết đối với các đại học trọng điểm quốc gia.
* Cùng với đổi mới mô hình, quản trị đại học cần thay đổi như thế nào để đáp ứng yêu cầu mới?
- Nếu phải lựa chọn một từ khóa cho quản trị đại học trong giai đoạn tới, theo tôi đó là “SMART”. Smart trước hết là quản trị dựa trên dữ liệu. Những quyết định lớn về tuyển sinh, phát triển chương trình, nhân lực, nghiên cứu khoa học, đầu tư phòng thí nghiệm, hợp tác quốc tế cần ngày càng được hỗ trợ bằng dữ liệu, các hệ thống số và trí tuệ nhân tạo, thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và quy trình hành chính truyền thống.
Smart còn có nghĩa là tổ chức tinh gọn, phản ứng nhanh, minh bạch, liên thông và thích ứng. Trong thời đại công nghệ thay đổi theo từng tháng, một chương trình đào tạo mất vài năm để điều chỉnh, một đề tài khoa học mất hàng năm cho các thủ tục hành chính hay một quyết định tuyển dụng nhà khoa học xuất sắc phải đi qua quá nhiều tầng nấc thì trường đại học rất khó cạnh tranh quốc tế.
Một smart university phải hình thành được hạ tầng dữ liệu dùng chung, quản trị số, thư viện số, phòng thí nghiệm thông minh, học liệu số, AI hỗ trợ giảng dạy và nghiên cứu; đồng thời tiến tới những mô hình cá thể hóa việc học và đánh giá người học theo năng lực.
Vì vậy, chuyển đổi số đại học không phải đơn giản là đưa các thủ tục giấy tờ lên máy tính. Đó là chuyển đổi mô hình quản trị.

* Một trong những yêu cầu quan trọng của Chiến lược giáo dục đại học là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nền kinh tế dựa trên khoa học công nghệ. Theo ông, cần thay đổi thế nào về đào tạo và nghiên cứu?
- STEM phải trở thành một nền tảng quan trọng của giáo dục đại học. Một đặc điểm dễ nhận thấy ở các quốc gia có năng lực công nghệ mạnh là họ đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Hàn Quốc là một ví dụ. Theo OECD, năm 2023, khoảng 32% sinh viên tốt nghiệp trình độ cử nhân của Hàn Quốc thuộc các lĩnh vực STEM, cao hơn mức trung bình 23% của OECD.
Trung Quốc cũng đang ưu tiên các đại học nghiên cứu tiên tiến, các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ mới nổi và liên ngành; đồng thời điều chỉnh mạnh cơ cấu ngành đào tạo theo nhu cầu phát triển khoa học công nghệ và các chiến lược quốc gia. Chỉ riêng năm 2024, Trung Quốc đã bổ sung 1.673 chương trình đại học phục vụ những nhu cầu chiến lược cấp thiết và loại bỏ 1.670 chương trình không còn phù hợp.
Việt Nam cũng đã xác định hướng đi này. Nghị quyết 71 đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%.
Tuy nhiên, muốn đạt mục tiêu đó không thể chỉ tăng chỉ tiêu tuyển sinh. Phải thay đổi đồng thời tuyển sinh và chương trình đào tạo, ở cả bậc đại học cũng như sau đại học.
Trong tuyển sinh, cần chuyển từ đánh giá khả năng ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực tư duy, toán học, khoa học, giải quyết vấn đề, tư duy logic và sáng tạo. Với những lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ chiến lược, cần có cơ chế đặc biệt để phát hiện và thu hút học sinh xuất sắc.
Trong chương trình đại học, toán học, khoa học cơ bản, dữ liệu, AI, tư duy tính toán, thiết kế kỹ thuật, khả năng giải quyết bài toán thực tế và đổi mới sáng tạo phải được coi trọng hơn. Chương trình không thể đóng khung trong từng ngành hẹp mà phải tăng tính liên ngành.
Ở bậc sau đại học càng phải thay đổi mạnh. Thạc sĩ và tiến sĩ phải thực sự gắn với nghiên cứu, các phòng thí nghiệm mạnh, những bài toán khoa học lớn, công nghệ chiến lược và vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp, đất nước. Đào tạo tiến sĩ cần được coi là một trong những phương thức chủ yếu để hình thành lực lượng R&D trình độ cao của quốc gia, chứ không đơn giản là đào tạo một học vị.
Một vấn đề khác là phải thay đổi vai trò của đại học trong quá trình tạo ra giá trị. Đại học đẳng cấp không chỉ phản ánh trình độ phát triển của một đất nước mà trong nhiều trường hợp chính đại học góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia.
Stanford là một ví dụ. Trường xây dựng Stanford Research Park từ năm 1951, thúc đẩy kết nối giữa nghiên cứu, công nghệ, doanh nghiệp và tinh thần khởi nghiệp. Quan hệ giữa đại học và công nghiệp, cùng việc khuyến khích đưa nghiên cứu vào thực tế và khởi nghiệp, đã góp phần hình thành hệ sinh thái công nghệ Silicon Valley.
Ở Hàn Quốc, quan hệ POSCO – POSTECH cũng là một bài học đáng nghiên cứu. POSTECH được POSCO thành lập năm 1986 với định hướng là đại học nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng hợp tác đại học – công nghiệp.
Bài học ở đây không phải sao chép Stanford hay POSTECH, mà là thay đổi quan niệm về vai trò của đại học. Đại học phải là nơi tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, con người mới và doanh nghiệp mới.
Trường đại học cần trở thành nền tảng sáng tạo, nơi doanh nghiệp đặt những bài toán công nghệ lớn; giáo sư, nhà khoa học và sinh viên cùng giải quyết; kết quả nghiên cứu được chuyển giao hoặc phát triển thành startup, spin-off; doanh nghiệp tiếp tục tái đầu tư vào trường đại học. Khi vòng tuần hoàn đó vận hành, đại học mới thực sự tham gia vào quá trình tạo ra giá trị và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Muốn làm được điều đó, một chìa khóa đặc biệt quan trọng là đầu tư cho R&D. Hiện nay ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu mới chỉ dừng ở công bố, khoa học công nghệ chưa thấm sâu vào cuộc sống vì đầu tư cho R&D còn thấp.
Các nghiên cứu cho thấy một quốc gia rất khó trở thành quốc gia đổi mới sáng tạo ở trình độ cao nếu chi cho R&D vẫn dưới 2% GDP. Con số 2% không phải ngưỡng toán học tuyệt đối nhưng có ý nghĩa như một ngưỡng chiến lược. Năm 2024, cường độ R&D trung bình của OECD khoảng 2,7% GDP; Hàn Quốc khoảng 5,1%, Israel khoảng 6,8%, trong khi Trung Quốc đã tiến lên mức tương đương trung bình OECD.
Vì vậy, mục tiêu R&D bằng 2% GDP mà Nghị quyết 57 đề ra đặc biệt quan trọng và cần được thực hiện bằng những giải pháp cụ thể. Nhà nước phải dẫn dắt nghiên cứu dài hạn, nghiên cứu nền tảng và công nghệ chiến lược; đồng thời tạo cơ chế đủ hấp dẫn để doanh nghiệp trở thành lực lượng đầu tư lớn cho R&D. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu hơn 60% kinh phí R&D đến từ xã hội cũng chính là hướng phát triển phù hợp.

* Trong quá trình nâng tầm đại học Việt Nam, vấn đề tự chủ, tự do học thuật và xây dựng đội ngũ nhà khoa học cần được đặt ở vị trí nào?
- Muốn có những đại học mạnh, các trường đại học trọng điểm, đại học nghiên cứu, đại học xuất sắc phải được tự chủ thực chất và toàn diện.
Tự chủ không thể chỉ được hiểu là tự chủ tài chính. Đại học phải được tự chủ về học thuật, tổ chức bộ máy, nhân sự, tuyển dụng chuyên gia, sử dụng nguồn lực, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và phát triển các mô hình mới. Nghị quyết 71 đã xác định yêu cầu bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính.
Đối với một số đại học trọng điểm quốc gia, tôi cho rằng cần mạnh dạn có những cơ chế sandbox, cho phép thí điểm cơ chế quản trị, tuyển dụng, tiền lương, hợp tác doanh nghiệp, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm khoa học khác với quy định thông thường, trên nguyên tắc có mục tiêu, có kiểm soát và có trách nhiệm giải trình.
Cùng với tự chủ đại học phải là tự do học thuật. Đây không phải khái niệm xa lạ. UNESCO coi tự do học thuật và tự chủ thể chế là những nguyên tắc nền tảng của giáo dục đại học; trong đó tự chủ thể chế là một điều kiện để bảo đảm tự do học thuật.
Hiệu trưởng hay giám đốc đại học trước hết phải là người kiến tạo môi trường học thuật, tập hợp và phát huy trí tuệ của các giáo sư, nhà khoa học xuất sắc, chứ không thể vận hành hoạt động học thuật đơn thuần theo quan hệ hành chính cấp trên – cấp dưới.
Trong một đại học thực sự mạnh, tiếng nói khoa học của giáo sư phải được tôn trọng. Các nhà khoa học cần có quyền đề xuất, được ủng hộ để phát triển đào tạo, nghiên cứu, quan điểm và trường phái khoa học của mình. Nếu người quản lý hành chính can thiệp, “chỉ đạo” các giáo sư về những vấn đề thuộc chuyên môn học thuật mà không dựa trên tranh luận khoa học thì rất khó nói đến đại học nghiên cứu, càng khó nói đến đại học tinh hoa.
Bên cạnh đó, mọi chiến lược dù đúng đến đâu cũng khó thành công nếu không có con người. Muốn khoa học công nghệ mạnh phải có nhà khoa học giỏi; muốn giữ được nhà khoa học giỏi phải có môi trường làm việc tốt, điều kiện nghiên cứu tốt và thu nhập tương xứng.
Không thể yêu cầu một nhà khoa học tạo ra sản phẩm đẳng cấp quốc tế trong khi họ phải dành quá nhiều thời gian lo cho cuộc sống hoặc làm những công việc ngoài chuyên môn để tăng thu nhập.
Cần thay đổi mạnh tư duy về tiền lương và thu nhập trong đại học. Thay vì cào bằng, cần chuyển sang cơ chế “được làm việc theo nhu cầu phát triển và đãi ngộ theo năng lực, kết quả và mức độ cống hiến”.
Người làm nhiều, tạo ra nhiều giá trị phải được hưởng nhiều. Người có năng lực xuất sắc phải có thu nhập vượt trội. Nhà khoa học tạo ra công nghệ, sáng chế, công bố xuất sắc, đào tạo được nhiều tiến sĩ giỏi, mang về những dự án nghiên cứu lớn hay tạo ra nguồn thu lớn cho trường phải được hưởng thành quả tương xứng.
Bài học Hàn Quốc từ những năm đầu công nghiệp hóa rất đáng suy ngẫm. Khi thành lập KIST năm 1966, Hàn Quốc chủ động tạo điều kiện vượt trội để thu hút các nhà khoa học, kỹ sư người Hàn đang làm việc ở nước ngoài trở về. Những năm đầu mới thành lập, mặc dù thu nhập bình quân của Hàn Quốc những năm 60 rất thấp, các nhà khoa học của KIST được trả mức thu nhập khoảng một phần ba mức lương tại Hoa Kỳ, một mức rất cao so với mặt bằng thu nhập trong nước thời kỳ đó.
Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tiền lương mà ở tư duy: một đất nước còn nghèo vẫn có thể dành nguồn lực đặc biệt cho những con người có khả năng làm thay đổi tương lai đất nước.
Việt Nam hiện nay có điều kiện tốt hơn rất nhiều so với Hàn Quốc những năm 1960. Vấn đề là chúng ta có đủ quyết tâm để tạo ra những cơ chế vượt trội hay không.
Theo tôi, cần trao cho các đại học trọng điểm và trung tâm nghiên cứu xuất sắc quyền xây dựng cơ chế thu nhập riêng cho nhân tài; cho phép trả lương theo năng lực và giá trị đóng góp, không bị giới hạn cứng bởi thang bảng lương hành chính thông thường. Đồng thời, cần tạo điều kiện tốt nhất về phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, trợ lý, nghiên cứu sinh, quỹ nghiên cứu và thủ tục tài chính để nhà khoa học dành phần lớn thời gian cho chuyên môn.
Thu hút nhân tài không chỉ là mời được họ về. Quan trọng hơn là phải tạo ra môi trường để nhân tài muốn ở lại, muốn cống hiến và có thể phát huy hết năng lực.

* Từ những vấn đề trên, ông kỳ vọng điều gì ở Chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn tới?
- Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Muốn đạt mục tiêu đó, chúng ta không thể chỉ dựa vào lợi thế lao động giá rẻ, tài nguyên hay gia công. Năng lực cạnh tranh trong những thập niên tới phải ngày càng dựa trên tri thức, khoa học công nghệ, nhân tài và đổi mới sáng tạo.
Đại học phải là một trong những lực lượng đi đầu tạo ra những năng lực đó. Đây cũng chính là cốt lõi của chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong những năm tới.
Một nền giáo dục đại học mạnh phải tạo ra được những con người mà hôm nay thị trường lao động chưa có; những tri thức mà hôm nay thế giới chưa biết; những công nghệ mà hôm nay doanh nghiệp chưa làm chủ; và những doanh nghiệp mà hôm nay chưa tồn tại.
Vì vậy, chiến lược phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn tới cần được đặt trong một tư duy mới: đại học không chỉ phục vụ sự phát triển mà phải tham gia kiến tạo và dẫn dắt sự phát triển.
Có thể khái quát tư duy đó bằng những yêu cầu: đại học đổi mới sáng tạo; SMART trở thành từ khóa của quản trị; STEM là nền tảng quan trọng; R&D được đầu tư tới tầm và xứng tầm; nghiên cứu cơ bản và khoa học đỉnh cao được nuôi dưỡng; tự chủ và tự do học thuật trở thành môi trường cho sáng tạo. Và trên tất cả, nhân tài phải thực sự được tôn trọng, được trao cơ hội và được đãi ngộ xứng đáng.
Xin cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Đình Đức!
“Nếu thực hiện nhất quán những điều đó trong 10 đến 20 năm tới, Việt Nam có thể hướng tới mục tiêu có những đại học tinh hoa top 100 thế giới, có năng lực làm chủ 10 công nghệ chiến lược, 30 sản phẩm quốc gia như Nhà nước đang đề ra; qua đó giáo dục đại học đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh, tự chủ về khoa học công nghệ và sự hùng cường của đất nước” - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.