Cách đây 81 năm, tại ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một bản Tuyên ngôn có giá trị trường tồn với những tư tưởng mang tính thời đại, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc.
Tôi đến gặp nhà giáo Trịnh Lương, con trai trưởng của nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô, chủ ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang năm xưa. Ông Trịnh Lương nay đã 93 tuổi, nhưng những ký ức về việc Bác Hồ đã ở tại ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang ông vẫn còn nhớ khá rõ. Ông cho biết, năm 1945, tuy mới 12 tuổi, nhưng do tham gia đội “Sói con” (một bộ phận thuộc tổ chức Hướng đạo sinh, từng tham gia rải truyền đơn ủng hộ Việt Minh) nên cậu thiếu niên Trịnh Lương đã có khả năng quan sát và trí nhớ khá tốt. “Những hiểu biết của tôi khi Bác Hồ đến nhà 48 Hàng Ngang vừa do ký ức của thời niên thiếu, vừa do được nghe mẹ tôi sau này kể lại”, nhà giáo Trịnh Lương cho biết.

Ông Trịnh Lương kể, trước khi Bác Hồ đến nhà 48 Hàng Ngang, căn nhà của gia đình đã là một cơ sở của Việt Minh. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, các cán bộ đứng đầu của Việt Minh đã họp tại gác hai nhà 48 Hàng Ngang. Một thời gian sau, Bác Hồ được đón đến đây, nhưng mọi người trong gia đình ông đều không được biết Người là ai. Nhưng qua cách thưa gửi, nói chuyện của người lớn trong gia đình ông với Bác, cậu thiếu niên Trịnh Lương đủ nhận thức để biết cụ già lưu lại nhà mình là một người rất quan trọng. Khi đó, bố mẹ ông Lương đã thu xếp toàn bộ tầng hai để Bác tiếp khách và làm việc, đồng thời mời Người lên nghỉ tại tầng ba. Tuy nhiên, Bác muốn ở luôn tại tầng hai để tiện làm việc, và nhận một chiếc giường để nghỉ đêm.
Thời gian Bác Hồ ở tại 48 Hàng Ngang, người làm tại nhà ông Trịnh Lương khi đó đều là họ hàng được lựa chọn kỹ trong quê, rất kín tiếng và thạo việc. Tuy vậy, bà Hoàng Thị Minh Hồ (mẹ ông Trịnh Lương) vẫn cho đầu bếp của gia đình về quê nghỉ một thời gian, khi nào được gọi mới lên. Sau đó, bà cho gọi một người họ hàng khác thật thân tín đang làm đầu bếp tại một hiệu ăn lớn trên phố Hàng Buồm về thay. “Vậy mà trước khi bưng cơm mời Bác, mẹ tôi đều bớt mỗi thứ một chút để cẩn thận nếm trước”, ông Trịnh Lương cho biết.
Năm 2015, tôi từng được ông Trịnh Lương đưa tới ngôi nhà 48 Hàng Ngang và giới thiệu chi tiết từng hiện vật tại đây. Nay xem lại những bức ảnh cũ tôi chụp khi đó, ông Trịnh Lương bồi hồi chỉ vào một chiếc bàn, cho biết: “Nghe mẹ tôi kể lại, năm xưa tại căn phòng tầng hai và bên chiếc bàn tròn gỗ gụ này, Bác Hồ đã thức rất khuya để làm việc. Nhiều đêm mẹ tôi thức giấc vẫn thấy căn phòng sáng đèn và nghe được tiếng máy chữ kêu lách tách trong phòng vọng ra. Sau này mẹ tôi mới biết, trong những đêm thức khuya làm việc đó, Người đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập”.
Ông Trịnh Lương bồi hồi nhớ lại: Ngày 2/9/1945, đội “Sói con” mà ông Lương tham gia cũng được tổ chức bố trí đến dự ngày hội lớn tại Quảng trường Ba Đình. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên lễ đài đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, ông Lương tròn mắt kinh ngạc khi nhận ra Người. Nước mắt ứa ra, ông nhớ chỉ hơn một tuần trước đây thôi, bản thân còn chưa biết ông cụ có cặp mắt sáng, mặc chiếc áo nâu bạc, thường ngồi làm việc rất khuya tại gác hai nhà mình là ai. Đến bây giờ ông đã biết đó là Bác Hồ, và những giờ phút được gặp Người tại 48 Hàng Ngang là những khoảnh khắc vô giá mà ông đã may mắn có được trong đời.

Hai năm trước, khi đến Bảo tàng Lịch sử Quốc gia làm việc, tôi có dịp đọc một số tư liệu, bài viết cũng như được xem một số hiện vật liên quan đến lễ Tuyên ngôn Độc lập được trưng bày tại đây. Đọc cuốn sách “Về lịch sử văn hóa và bảo tàng” gồm tuyển tập bài viết của các cán bộ Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) từ năm 1959-2004 (do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004), tôi chú ý đến bài viết “Tuyên ngôn Độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại” của nhà sử học Dương Trung Quốc (khi đó là ủy viên Hội đồng khoa học Bảo tàng cách mạng Việt Nam). Trong bài viết này, ông Dương Trung Quốc nhận định Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 là một áng văn bất hủ trong di sản văn hóa và tư tưởng của Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Tuyên ngôn Độc lập sánh với những áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, như “bài thơ thần bên sông Như Nguyệt” gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Liệt, “Hịch tướng sĩ” thời Trần Hưng Đạo ba lần đánh bại giặc Nguyên - Mông, “Đại cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của Lê Lợi…
Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, Tuyên ngôn Độc lập mang một giá trị đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về chủ quyền của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc, mà còn khẳng định với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly khỏi chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Hơn thế nữa, nhà nước này lại là thành quả của “một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay”, do vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”.

Bài viết “Tuyên ngôn Độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại” cho biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập vào đêm 28/8/1945, ngay sau khi Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội đề cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng được khởi thảo khi những đại diện của Việt Minh đã lên đường vào Huế để 2 hôm sau (30/8/1945) nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại.
Bản Tuyên ngôn Độc lập được Hồ Chủ tịch soạn thảo ngay giữa lòng thành phố Hà Nội, tại ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang của một nhà tư sản dân tộc. Khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Bác đã trao đổi lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hòa…

Trong bài viết, nhà sử học Dương Trung Quốc nhấn mạnh: Có người khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đặt ra câu hỏi vì sao tác giả lại trích hai bản Tuyên ngôn của hai quốc gia Pháp và Mỹ? Đây hoàn toàn không phải là sách lược để ứng phó với hai cường quốc lớn tiềm tàng những mưu đồ thực dân cũ và mới. Sử dụng những trích dẫn ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định rằng, ngay Cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp của con đường tiến hóa mà nhân loại đã và sẽ đi. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1791 là những mốc son của sự nghiệp giải phóng con người thì chính cuộc Cách mạng tháng 8/1945 của Việt Nam cũng là bước đi tiếp theo của quá trình ấy…


Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một nhà nước Việt Nam Dân chủ - Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một chân lý mang tầm thời đại.