Chính sách giáo dục

Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị: Để chi phí học tập không còn là rào cản

Lê Nam (Thực hiện) 09/02/2026 09:42

Một trong những điểm đột phá quan trọng của Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là cam kết “không để học sinh, sinh viên nào bỏ học vì điều kiện tài chính”.

Sinh viên tham gia chương trình bảo lãnh vay, hỗ trợ lãi suất dành cho sinh viên Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM). Ảnh: Lê Nam
Sinh viên tham gia chương trình bảo lãnh vay, hỗ trợ lãi suất dành cho sinh viên Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM). Ảnh: Lê Nam

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các cơ chế hỗ trợ tài chính cho người học và mở ra hướng đổi mới toàn diện cho hệ thống giáo dục đại học.

TS Lê Văn Út - Trợ lý Chủ tịch Hội đồng trường, Trưởng Nhóm Nghiên cứu SARAP (Trường Đại học Văn Lang, TPHCM) trao đổi xung quanh vấn đề này.

Bảo đảm cơ hội học tập cho mọi sinh viên

- Nghị quyết 71 chủ trương mở rộng các chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng ưu đãi cho người học, đặt ra cam kết mạnh mẽ là “không để học sinh, sinh viên nào bỏ học vì điều kiện tài chính”. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa và tính thực tiễn cam kết này?

- Tôi cho rằng đây là định hướng rất nhân văn, tiến bộ và hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế tại các quốc gia có nền giáo dục đại học phát triển như Phần Lan, Mỹ, Vương quốc Anh hay Hàn Quốc. “Không để học sinh, sinh viên nào bỏ học vì điều kiện tài chính” không chỉ là khẩu hiệu chính sách mà là cam kết lớn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của nhiều cơ chế, nguồn lực và cách thức tổ chức thực hiện chặt chẽ để bảo đảm tính khả thi và công bằng.

Trên thực tế, những chính sách này hoàn toàn khả thi nếu được triển khai quyết liệt và nhất quán. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg về tín dụng đối với học sinh, sinh viên, học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán, nhằm hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí và các chi phí học tập khác. Đây là bước đi quan trọng, cho thấy cam kết chính trị đang dần được cụ thể hóa bằng chính sách.

- Theo ông, các chính sách tín dụng ưu đãi, quỹ học bổng quốc gia và những cơ chế hỗ trợ tài chính khác cần được thiết kế và triển khai như thế nào để bảo đảm tính khả thi và công bằng?

- Trong Nghị quyết 71, việc mở rộng các chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng ưu đãi; thành lập Quỹ học bổng quốc gia; đồng thời khai thác hiệu quả các quỹ khuyến học, khuyến tài từ ngân sách Nhà nước và các nguồn hợp pháp khác là nền tảng rất quan trọng để tạo thêm cơ hội cho người học. Tuy nhiên, để các chính sách này thực sự phát huy hiệu quả, tôi cho rằng cần lưu ý một số điểm then chốt.

Thứ nhất, mở rộng nhóm đối tượng được hỗ trợ. Chính sách tín dụng ưu đãi không nên chỉ tập trung vào các ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) mà cần mở rộng sang các lĩnh vực xã hội đang có nhu cầu cao như giáo dục, y tế, khoa học xã hội. Đồng thời, cần linh hoạt hơn trong điều kiện học lực đầu vào đối với sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ hai, tăng nguồn lực và đa dạng hóa nguồn hỗ trợ. Bên cạnh việc tăng ngân sách Nhà nước cho quỹ học bổng quốc gia và tín dụng học sinh, sinh viên, cần khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, nhà hảo tâm và các quỹ quốc tế. Có thể xem xét các chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích xã hội hóa nguồn lực cho giáo dục.

Thứ ba, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi. Quy trình vay vốn, xét học bổng cần rõ ràng, minh bạch, dễ tiếp cận, đặc biệt đối với sinh viên vùng sâu, xa. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai các nền tảng trực tuyến để đăng ký, theo dõi và công khai thông tin rất cần thiết.

- Ngoài việc hỗ trợ tiếp cận, theo ông cần có những cơ chế gì để bảo đảm người học không bị áp lực tài chính sau khi tốt nghiệp và chính sách được giám sát hiệu quả?

- Một yếu tố rất quan trọng là cơ chế trả nợ linh hoạt, nhằm tránh việc người học mang gánh nặng tài chính kéo dài sau khi ra trường. Cần cho phép sinh viên trả nợ khi đã có thu nhập ổn định, áp dụng hình thức trả góp phù hợp, thậm chí xem xét các chính sách miễn, giảm nợ trong những trường hợp bất khả kháng như bệnh tật, thiên tai hay thất nghiệp do nguyên nhân khách quan.

Bên cạnh đó, giám sát, đánh giá và minh bạch là yêu cầu không thể thiếu. Các cơ quan quản lý cần công khai số liệu về số lượng người được vay, được nhận học bổng, tổng nguồn lực huy động, hiệu quả sử dụng, tỷ lệ sinh viên bỏ học vì tài chính và tỷ lệ hoàn trả vốn. Việc có sự tham gia của các cơ quan kiểm toán, giám sát độc lập hoặc bên thứ ba sẽ giúp bảo đảm các nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu và công bằng.

Ngoài ra, cần ưu tiên đặc thù cho các vùng khó khăn, sinh viên dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng núi thông qua việc hỗ trợ thêm chi phí đi lại, nhà ở, sinh hoạt và thiết bị học tập.

de-chi-phi-hoc-tap-khong-con-la-rao-can.jpg
TS Lê Văn Út, Trợ lý Chủ tịch Hội đồng trường, Trưởng Nhóm Nghiên cứu SARAP (Trường Đại học Văn Lang, TPHCM). Ảnh: VLU

Đổi mới quản trị và cơ chế đặt hàng

- Theo ông, đâu là điểm đáng chú ý khác của Nghị quyết 71 đối với giáo dục đại học?

- Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết 71 là việc nhấn mạnh cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ gắn với kết quả đầu ra. Đây là định hướng chiến lược quan trọng, tiệm cận với mô hình quản lý giáo dục đại học tiên tiến mà nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển đang áp dụng, điển hình như Phần Lan - nơi tôi đã có cơ hội trải nghiệm thực tế.

- Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ theo kết quả đầu ra mà Nghị quyết 71 đặt ra, theo ông, các cơ sở giáo dục đại học cần thay đổi như thế nào?

- Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 71, các cơ sở giáo dục đại học cần thay đổi trên bốn phương diện.

Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị chiến lược và tài chính theo kết quả (RBM), chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị theo mục tiêu. Các trường phải xây dựng hệ thống kế hoạch - ngân sách - đánh giá liên thông, đồng thời có khả năng lập và quản lý hợp đồng đặt hàng, định giá chi phí, xác định sản phẩm đầu ra, kiểm toán và kiểm định độc lập.

Thứ hai, gắn đào tạo và nghiên cứu với nhu cầu xã hội, doanh nghiệp, chứng minh chương trình và năng lực nghiên cứu giải quyết được vấn đề thực tiễn, đóng góp cho phát triển đất nước.

Thứ ba, minh bạch dữ liệu đầu ra và chất lượng đào tạo. Ngoài việc công bố các chỉ số thường niên, cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia minh bạch, cho phép giám sát và so sánh giữa các trường.

Thứ tư, Nhà nước cần lộ trình đầu tư và hỗ trợ chuyển đổi cho các trường còn hạn chế, đặc biệt ở vùng khó khăn. Có thể phân nhóm: Trường có năng lực cao áp dụng cơ chế đặt hàng, đấu thầu cạnh tranh; trường đang nâng chuẩn được hỗ trợ theo nhiệm vụ đặc thù với chỉ tiêu chuyển đổi từng giai đoạn.

Theo giaoducthoidai.vn
https://giaoducthoidai.vn/nghi-quyet-71-nqtw-cua-bo-chinh-tri-de-chi-phi-hoc-tap-khong-con-la-rao-can-post766781.html
Copy Link
https://giaoducthoidai.vn/nghi-quyet-71-nqtw-cua-bo-chinh-tri-de-chi-phi-hoc-tap-khong-con-la-rao-can-post766781.html
Bài liên quan
Đột phá giáo dục và đào tạo TPHCM từ Nghị quyết 71
Các chuyên gia cùng thảo luận những đột phá phát triển giáo dục - đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW tại hội thảo khoa học quốc gia.

(0) Bình luận
Nổi bật Giáo dục thủ đô
Đừng bỏ lỡ
Mới nhất
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO
Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị: Để chi phí học tập không còn là rào cản