Trong bối cảnh nhiều ngành nghề chịu tác động mạnh từ trí tuệ nhân tạo (AI), khối ngành Sư phạm, Khoa học xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) vẫn duy trì nhu cầu nhân lực ổn định.

Thực tiễn đào tạo cùng góc nhìn từ chuyên gia cho thấy đây là nhóm ngành “đi chậm nhưng bền”.
Trong bức tranh tuyển sinh đại học năm 2025, nhóm ngành Sư phạm và KHXH&NV tiếp tục duy trì quy mô đào tạo ổn định tại nhiều cơ sở giáo dục đại học, thay vì tăng trưởng “nóng” như một số lĩnh vực công nghệ. Các trường đào tạo khối ngành này chủ yếu xây dựng chỉ tiêu ở mức vừa phải, gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực dài hạn.
Ở nhóm ngành Sư phạm, nhiều trường đại học lớn tiếp tục giữ vai trò đào tạo nòng cốt. Trường Đại học Sư phạm TPHCM duy trì đào tạo các ngành Sư phạm Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh, Lịch sử, Địa lí… Trong khi đó, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Vinh tiếp tục là những cơ sở đào tạo giáo viên chủ lực, bổ sung nguồn nhân lực cho hệ thống giáo dục phổ thông trên cả nước.
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo khối KHXH&NV tập trung cung cấp nhân lực cho các vị trí nghiên cứu, quản lý giáo dục, công tác sinh viên, tư vấn học đường và các lĩnh vực hỗ trợ giáo dục tại địa phương.
Ở khối KHXH&NV, các ngành như: Tâm lý học, Công tác xã hội, Xã hội học, Ngôn ngữ học, Lịch sử, Văn hóa học, Thông tin - Thư viện, Quản lý giáo dục tiếp tục được duy trì ổn định. Năm 2025, Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia TPHCM) tuyển sinh 3.899 chỉ tiêu cho 37 ngành đào tạo chính quy, phản ánh nhu cầu bền vững của xã hội đối với nguồn nhân lực phục vụ giáo dục và phát triển xã hội.
Đáng chú ý, trong bối cảnh AI được ứng dụng ngày càng rộng rãi vào giảng dạy, nghiên cứu và quản lý, các chương trình đào tạo thuộc khối Sư phạm và KHXH&NV không thu hẹp quy mô mà có sự điều chỉnh nội dung. Nhiều cơ sở đào tạo từng bước bổ sung học phần liên quan đến chuyển đổi số, kỹ năng công nghệ, khai thác dữ liệu và ứng dụng AI ở mức hỗ trợ, phù hợp với định hướng Khung năng lực số theo Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT.

Từ thực tiễn đào tạo và thị trường lao động, ThS Trần Nam - Trưởng phòng Công tác Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia TPHCM), cho rằng nếu nhìn trong ngắn hạn, nhóm ngành Sư phạm và KHXH&NV không tạo ra “bước nhảy” mạnh về thu nhập như một số lĩnh vực công nghệ. Tuy nhiên, xét về dài hạn, đây là nhóm ngành có nhu cầu nhân lực ổn định, liên tục, gắn với sự phát triển của giáo dục, đời sống xã hội và các dịch vụ hỗ trợ con người.
Thực tế cho thấy, sau các giai đoạn điều chỉnh của thị trường lao động, vị trí việc làm thuộc khối KHXH&NV vẫn được tuyển dụng đều đặn, đặc biệt trong các lĩnh vực giáo dục, tâm lý học, công tác xã hội, quản lý và hành chính. Chính đặc thù gắn với con người và xã hội khiến nhóm ngành này ít chịu tác động tức thời từ làn sóng thay thế lao động bằng công nghệ.
Theo ThS Trần Nam, các chương trình đào tạo thuộc khối Sư phạm và KHXH&NV thường có chỉ tiêu vừa phải, điều chỉnh theo nhu cầu xã hội, không tăng đột biến nên khó xảy ra tình trạng dư thừa nhân lực diện rộng. “Năm nào cũng có những vị trí cần tuyển mới, từ giáo viên thay thế lực lượng về hưu, giảng viên cho các cơ sở đào tạo mới đến nhân sự trong các lĩnh vực hành chính công, văn hóa, xã hội”, ông cho biết.
Từ dữ liệu việc làm của nhà trường, ThS Trần Nam nhận định nhu cầu nhân lực đối với nhóm ngành Sư phạm và KHXH&NV trong những năm tới vẫn duy trì ổn định. Sau các giai đoạn điều chỉnh, thị trường lao động vẫn thường xuyên tuyển dụng nhân sự thuộc lĩnh vực này.
“Ngành Sư phạm tiếp tục phát triển theo hướng đều đặn, bền vững, gắn với sự gia tăng dân số và nhu cầu học tập của xã hội. Bên cạnh đó, các ngành liên quan đến Tâm lý học, Công tác xã hội ghi nhận xu hướng tích cực khi nhu cầu tham vấn, tư vấn và hỗ trợ con người ngày càng gia tăng, qua đó mở ra nhiều cơ hội việc làm mới”, ông Nam nhận định.
Tuy nhiên, cùng với triển vọng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực trong khối ngành Sư phạm - KHXH&NV ngày càng cao. Người lao động không chỉ cần nền tảng chuyên môn vững chắc, mà còn phải có kỹ năng công nghệ, am hiểu văn hóa - xã hội và tâm lý con người.
Xu hướng làm việc đa nhiệm cũng được nhiều doanh nghiệp và tổ chức quan tâm, đòi hỏi nhân sự có khả năng đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, từ soạn thảo văn bản, tổ chức - sắp xếp công việc đến xử lý tình huống, xây dựng thông điệp và thực hiện truyền thông nội bộ. “Câu hỏi không phải AI có thay thế mình hay không, mà là làm thế nào để AI phục vụ mình và giúp tạo ra nhiều giá trị hơn trong công việc”, ông nhấn mạnh.
Ở góc độ tác động của công nghệ, theo ThS Trần Nam, AI không “lấy đi” việc làm của nhóm ngành này một cách nhanh chóng mà chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ. Trong giáo dục, AI giúp giảng viên khai thác học liệu, xây dựng bài giảng, cá nhân hóa việc học cho sinh viên; trong hành chính, AI hỗ trợ tổng hợp thông tin, xử lý văn bản và nâng cao hiệu quả công việc.
Cùng quan điểm trên, TS Giang Thiên Vũ - giảng viên Khoa Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TPHCM, cho rằng các lĩnh vực gắn với con người vẫn duy trì sức hút đối với nhân lực chất lượng cao nhờ tính chất nghề nghiệp đặc thù.
AI có thể xử lý dữ liệu, tối ưu quy trình, thậm chí mô phỏng một số hành vi giao tiếp, nhưng không sống trong bối cảnh xã hội, không lớn lên trong gia đình, không trải nghiệm tổn thương, khủng hoảng bản sắc hay mâu thuẫn giá trị - những yếu tố rất “người” và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại.
“Chính vì vậy, các lĩnh vực gắn với con người - mối quan hệ sức khỏe tinh thần, giáo dục, tổ chức không những không thu hẹp mà còn mở rộng. Ngành Tâm lý học thu hút nhân lực chất lượng cao bởi đây là lĩnh vực kết hợp giữa khoa học, đạo đức, tính nhân văn và khả năng tạo ảnh hưởng xã hội lâu dài. Thu nhập có thể không ‘bùng nổ’ sớm, nhưng càng về sau, khi năng lực chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và kinh nghiệm tích lũy đủ sâu, giá trị nghề nghiệp của nhà tâm lý học càng gia tăng”, TS Vũ nhấn mạnh.
TS Lê Duy Tân - giảng viên Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TPHCM), nhận định, việc ứng dụng AI trong giảng dạy đại học hiện nay chủ yếu theo hướng “hỗ trợ có kiểm soát”, không thay thế vai trò của giảng viên. Thực tế, AI được sử dụng như công cụ kỹ thuật nhằm rút ngắn các khâu mang tính lặp lại, từ hỗ trợ xây dựng bản nháp giáo án, phân tích chuẩn đầu ra học phần đến thiết kế đề kiểm tra, đánh giá theo các mức độ nhận thức khác nhau.