Theo GS.TS Vũ Đình Lãm, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị vũ trụ toàn cầu, Việt Nam cần tập trung vào những năng lực cốt lõi như thiết kế, tích hợp, thử nghiệm vệ tinh; làm chủ một số phân hệ quan trọng; đồng thời phát triển hạ tầng mặt đất và dữ liệu không gian.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ.
Nhân dịp này, Báo Điện tử Chính phủ trao đổi với GS.TS Vũ Đình Lãm, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), về định hướng phát triển năng lực công nghệ vũ trụ, cũng như những yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn mới.
Thưa Giáo sư, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian tại Pháp có ý nghĩa như thế nào đối với định hướng phát triển năng lực công nghệ vũ trụ và vị thế của Việt Nam?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris thể hiện tầm nhìn chiến lược trong mở rộng hợp tác quốc tế về công nghệ vũ trụ, đồng thời khẳng định lĩnh vực này đã được đặt ở tầm chiến lược quốc gia, gắn với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực quan sát Trái đất.
Đây cũng là định hướng nhất quán với mục tiêu làm chủ công nghệ quan sát Trái đất và phát triển hạ tầng dữ liệu không gian mà Việt Nam đang theo đuổi.
Trong bối cảnh hạ tầng vệ tinh, nguồn dữ liệu và số lượng chủ thể tham gia ngày càng mở rộng, Việt Nam cần quan tâm đồng thời đến phát triển kinh tế vũ trụ, an ninh và chủ quyền không gian, hành lang pháp lý và quản trị hoạt động không gian, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Bên cạnh năng lực kỹ thuật, Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào các hoạt động quốc tế về sử dụng không gian vì mục đích hòa bình, an toàn và bền vững; sử dụng và bảo vệ tài nguyên tần số, quỹ đạo; bảo đảm an ninh dữ liệu không gian và khả năng tiếp cận công bằng đối với các quốc gia đang phát triển.
Về chuyên môn, điều quan trọng là bảo đảm tính liên tục của năng lực quan sát Trái đất từ nhiều nguồn dữ liệu; từng bước nâng cao khả năng tự chủ trong thiết kế, tích hợp, thử nghiệm và vận hành vệ tinh, đồng thời phát triển đồng bộ hạ tầng mặt đất và hạ tầng dữ liệu.
Việc lãnh đạo cấp cao tham dự các diễn đàn quốc tế tạo tiền đề để gắn những định hướng này với các chương trình hợp tác có quy mô, chiều sâu và thực chất hơn. Chúng tôi kỳ vọng các trao đổi cấp cao sẽ thúc đẩy hợp tác, trong đó cán bộ Việt Nam được trực tiếp tham gia các khâu cốt lõi, gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chuyên sâu và tạo ra kết quả có tính kế thừa cho những nhiệm vụ tiếp theo.

Pháp là cường quốc vũ trụ với hệ thống nghiên cứu, công nghệ và doanh nghiệp phát triển. Việt Nam nên ưu tiên những lĩnh vực nào khi hợp tác với Pháp?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Việt Nam và Pháp đã có nền tảng hợp tác lâu năm trong lĩnh vực quan sát Trái đất, tiêu biểu là chương trình vệ tinh VNREDSat-1. Chương trình này giúp Việt Nam hình thành hệ thống quan sát Trái đất quang học chủ động, phát triển nguồn nhân lực, tích lũy kinh nghiệm vận hành, khai thác dữ liệu và quản lý một hệ thống vệ tinh hoàn chỉnh.
Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục phát triển các thế hệ vệ tinh quang học tiếp theo và duy trì, tăng cường năng lực quan sát Trái đất.
Trong giai đoạn tới, có thể ưu tiên hợp tác với Pháp ở 3 nhóm lĩnh vực:
Thứ nhất là công nghệ quan sát Trái đất thế hệ mới, đặc biệt là vệ tinh quang học độ phân giải siêu cao và vệ tinh radar khẩu độ tổng hợp (SAR). Đây là những công cụ quan trọng phục vụ giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ hai là hạ tầng mặt đất và hạ tầng dữ liệu không gian, trong đó chú trọng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để xử lý, khai thác ảnh viễn thám đa tầng phục vụ phát triển kinh tế số, đồng thời tăng cường khả năng bảo đảm an toàn và chống chịu của các hệ thống không gian.
Thứ ba là tiếp cận công nghệ lõi và các quy trình chuẩn hóa quốc tế thông qua lắp ráp, tích hợp và thử nghiệm vệ tinh tại Việt Nam.
Về phương thức hợp tác, chúng ta nên hướng tới mô hình đồng thiết kế và đồng phát triển. Hai bên cùng tham gia thiết kế, thử nghiệm, qua đó cùng tạo ra và tích lũy năng lực công nghệ. Một số mô-đun, phần mềm, thiết bị hỗ trợ mặt đất, thuật toán xử lý hoặc quy trình thử nghiệm có thể được lựa chọn để đội ngũ Việt Nam tham gia ngay từ giai đoạn đầu.
Sau mỗi dự án, phía Việt Nam cần duy trì đội ngũ nhân lực, tài liệu kỹ thuật, quy trình công nghệ và những công nghệ có thể tái sử dụng cho các nhiệm vụ tiếp theo.
Đối với các công nghệ lõi chưa đủ điều kiện làm chủ trong nước, chuyển giao công nghệ vẫn cần thiết, nhưng phải gắn với lộ trình nâng cao tỉ lệ nội địa hóa. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm chất lượng, tiến độ dự án, vừa giúp năng lực trong nước được nâng lên qua từng thế hệ vệ tinh.

Nếu chỉ lựa chọn 2-3 năng lực để đầu tư trọng điểm trong 5-10 năm tới, Giáo sư sẽ ưu tiên những năng lực nào?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Theo định hướng phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030 tại Quyết định số 169/QĐ-TTg và Danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, việc lựa chọn năng lực ưu tiên cần phù hợp với mục tiêu tăng cường năng lực nội sinh, làm chủ có chọn lọc các công nghệ then chốt và từng bước nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Do đó, nếu phải lựa chọn, tôi nghĩ rằng cần ưu tiên trước hết năng lực thiết kế nhiệm vụ, kỹ thuật hệ thống và lắp ráp, tích hợp, thử nghiệm vệ tinh. Đây là năng lực giúp chúng ta hiểu và kiểm soát một hệ thống vệ tinh hoàn chỉnh.
Việt Nam có thể kết hợp sản phẩm trong nước với linh kiện, phân hệ từ chuỗi cung ứng quốc tế, nhưng các khâu như xác định yêu cầu nhiệm vụ, thiết kế kiến trúc hệ thống, xây dựng kế hoạch thử nghiệm, xử lý sai lệch kỹ thuật và đánh giá đủ điều kiện bay cần từng bước do đội ngũ trong nước đảm nhiệm.
Thứ hai là phát triển và làm chủ một số phân hệ có khả năng sử dụng qua nhiều thế hệ vệ tinh, chẳng hạn máy tính điều khiển trung tâm, phần mềm bay, hệ thống thông tin, một số cảm biến và phân hệ nhiệm vụ. Việc lựa chọn cần dựa trên khả năng nghiên cứu - thử nghiệm trong nước, nhu cầu sử dụng lặp lại và tiềm năng hình thành sản phẩm công nghiệp.
Thứ ba là làm chủ hạ tầng trạm mặt đất, vận hành vệ tinh và quản trị, khai thác dữ liệu không gian. Năng lực này bao gồm lập lịch nhiệm vụ, đo xa - bám sát - điều khiển, thu nhận, xử lý, lưu trữ, bảo mật và phân phối dữ liệu. Đối với những nguồn dữ liệu phục vụ các nhiệm vụ quan trọng, đây là phần Việt Nam cần chủ động.

Thưa Giáo sư, Việt Nam đang ở đâu trong quá trình chuyển từ chương trình vũ trụ sang phát triển kinh tế vũ trụ?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Việt Nam đang ở giai đoạn đầu hình thành thị trường vũ trụ, nhưng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước đang mở rộng. Bên cạnh các doanh nghiệp hoạt động trong thông tin vệ tinh, tích hợp hệ thống và dữ liệu, đã có doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vệ tinh, phát triển trạm mặt đất, UAV, thiết bị, phần mềm và sản phẩm dữ liệu. VTX, VinSpace, CT Verse, Vegastar, OSB... là một số ví dụ về sự tham gia của doanh nghiệp ở các khâu khác nhau.
Điều này có ý nghĩa bởi công nghệ vũ trụ đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể. Một hệ thống vệ tinh hoàn chỉnh gồm nhiều phân hệ, thiết bị, phần mềm, dịch vụ và công đoạn kiểm chứng. Khi viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng tham gia theo thế mạnh, có sự phân công rõ ràng, năng lực trong nước sẽ được tích lũy rộng hơn và có khả năng hình thành sản phẩm thương mại.
Trong quá trình này, nguồn nhân lực là một mắt xích quan trọng. Rào cản hiện nay không hẳn nằm ở thiếu kiến thức hay kỹ năng cơ bản mà ở khoảng cách giữa đào tạo, tích lũy kinh nghiệm qua các dự án thực tế và cơ chế đãi ngộ để duy trì, phát triển nhân lực.
Vì vậy, cần hình thành một chuỗi dự án, nhiệm vụ liên tục trong nước, gắn với chính sách đãi ngộ phù hợp để cán bộ có điều kiện làm việc thực chất, duy trì và truyền đạt kinh nghiệm cho các thế hệ kế tiếp.
Theo Giáo sư, trong 5 năm tới, lĩnh vực nào có thể tạo ra giá trị kinh tế - xã hội rõ nét từ công nghệ vũ trụ? Vì sao dữ liệu vệ tinh chưa được khai thác tương xứng?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Sự hội tụ giữa vệ tinh đa cảm biến, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra thay đổi căn bản: dữ liệu không gian có thể chuyển từ những ảnh tĩnh, rời rạc thành các dòng thông tin được phân tích thông minh, gần thời gian thực. Đây là cơ hội để Việt Nam thương mại hóa các sản phẩm công nghệ vũ trụ và tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp mà không nhất thiết phải chờ đến khi làm chủ toàn bộ chuỗi công nghệ.
Trong 5 năm tới, một số lĩnh vực có tiềm năng rõ rệt gồm nông nghiệp chính xác; giám sát hạ tầng và kinh tế biển; quản trị rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu.
Ảnh radar kết hợp ảnh quang học đa phổ có thể hỗ trợ nhận dạng cây trồng, theo dõi sinh trưởng, hạn hán và biến động diện tích. Dữ liệu vệ tinh có thể phục vụ theo dõi biến động bề mặt, một số dạng dịch chuyển, giám sát hạ tầng và các hoạt động kinh tế biển. Các thuật toán học sâu có thể hỗ trợ lập bản đồ ngập lụt, cảnh báo trượt lở, phục vụ cứu hộ, cứu nạn và đánh giá thiệt hại.
Một hạn chế hiện nay là dữ liệu còn phân tán theo dự án và cơ quan quản lý, thiếu chuẩn hóa, liên thông; chuỗi thời gian ở nhiều khu vực chưa đủ liên tục; dữ liệu kiểm chứng mặt đất còn thiếu và chưa có đủ dữ liệu được gán nhãn để phát triển AI.
Do đó, cần xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia theo hướng đầu tư đồng bộ các cấu phần lưu trữ, chuẩn hóa, xử lý, kiểm tra chất lượng, phân quyền, bảo mật; kết hợp dữ liệu quang học, radar, UAV và dữ liệu mặt đất, đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ phù hợp.

Sau Hội nghị Thượng đỉnh Không gian tại Pháp, ông kỳ vọng ngành vũ trụ Việt Nam sẽ có những thay đổi nào trong 5 năm tới?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Trước hết, Việt Nam cần duy trì và nâng cao năng lực quan sát Trái đất trong nước, cả quang học và radar, thông qua vận hành, khai thác hiệu quả các vệ tinh đã, đang và sẽ triển khai như VNREDSat-1, VNREDSat-2 và LOTUSat-1. Quan trọng hơn là đưa dữ liệu vệ tinh vào sử dụng thường xuyên cho các bài toán cụ thể.
Một kết quả quan trọng khác là triển khai thành công các nhiệm vụ vệ tinh nhỏ với mức độ tham gia trong nước ngày càng cao. Đội ngũ Việt Nam cần đảm nhiệm nhiều hơn các khâu thiết kế, tích hợp, thử nghiệm, vận hành và khai thác dữ liệu; đồng thời kế thừa thiết kế, phần mềm, quy trình và kinh nghiệm của nhiệm vụ trước.
Mức độ kế thừa và khả năng thực hiện nhiệm vụ tiếp theo với sự chủ động cao hơn là chỉ dấu quan trọng để đánh giá năng lực công nghệ có thực sự được tích lũy hay không.
Bên cạnh số lượng vệ tinh, cần nâng cao năng lực tổ chức nhiệm vụ, vận hành và khai thác nhiều vệ tinh, tối ưu thời gian đáp ứng, tăng khả năng ứng dụng và số lượng cán bộ trẻ trực tiếp tham gia.
Sự tham gia của doanh nghiệp cũng là một chỉ số cần theo dõi. Không nhất thiết doanh nghiệp phải phát triển một vệ tinh hoàn chỉnh; có thể tham gia ở các lĩnh vực như điện tử, anten, thông tin vệ tinh, phần mềm, trạm mặt đất, tải trọng, UAV, dữ liệu hoặc dịch vụ kỹ thuật.
Nếu hình thành được một số doanh nghiệp có sản phẩm được sử dụng trong các nhiệm vụ vệ tinh trong nước và có khả năng cung cấp cho nhiều khách hàng, đó sẽ là kết quả đáng khích lệ.
Cuối cùng, nhiệm vụ sau cần có khả năng sử dụng lại đội ngũ, thiết kế, phần mềm, quy trình và hạ tầng của nhiệm vụ trước, đồng thời giảm mức hỗ trợ bên ngoài ở những khâu Việt Nam đã làm chủ. Đây là chỉ dấu rõ ràng về mức trưởng thành của năng lực công nghệ.

Xin ông cho biết Trung tâm Vũ trụ Việt Nam sẽ ưu tiên những năng lực, hạ tầng và dự án nào trong giai đoạn tới?
GS.TS Vũ Đình Lãm: Ưu tiên đầu tiên của chúng tôi là bảo đảm tính liên tục của các dòng vệ tinh quan sát Trái đất. Với quang học, cần thúc đẩy tiếp nối và kế thừa VNREDSat-1. Với radar, cần đưa LOTUSat-1 vào vận hành và chuẩn bị bước tiếp theo trên cơ sở tận dụng hạ tầng, đội ngũ và kinh nghiệm đã có. Với vệ tinh nhỏ, cần duy trì chuỗi nhiệm vụ đủ liên tục để thiết kế, quy trình và nhân lực được kế thừa.
Ưu tiên thứ hai là trạm mặt đất, điều hành và dữ liệu. Khi số lượng vệ tinh tăng, hệ thống phải xử lý nhiều nhiệm vụ, phân bổ vùng chụp, ưu tiên các yêu cầu khẩn cấp, đo xa - bám sát - điều khiển, thu nhận và xử lý nhiều loại dữ liệu. Hạ tầng dữ liệu cần kết nối các nguồn quang học, radar, vệ tinh nhỏ, UAV và dữ liệu mặt đất, đồng thời bảo đảm phân quyền và an toàn dữ liệu.
Ưu tiên thứ ba là hoàn thiện năng lực lắp ráp, tích hợp và thử nghiệm vệ tinh tại Hòa Lạc. Một cơ sở AIT cần có phòng sạch, thiết bị được hiệu chuẩn và bảo trì ổn định, khả năng thử rung, nhiệt chân không, đo đặc tính khối lượng, kiểm tra điện - chức năng, tần số vô tuyến và các phép thử cần thiết.
Cùng với hạ tầng, cần hoàn thiện quy trình, hồ sơ chất lượng, quản lý cấu hình, xử lý điểm không phù hợp và đội ngũ có khả năng tổ chức một chiến dịch thử nghiệm hoàn chỉnh.
Các nhiệm vụ vệ tinh lớp micro yêu cầu tích hợp và thử nghiệm chủ yếu tại Việt Nam là cơ hội cụ thể để sử dụng hạ tầng AIT cho một nhiệm vụ bay thực tế, qua đó hoàn thiện quy trình, đội ngũ và năng lực bảo đảm chất lượng. Với những phép thử chưa thể thực hiện trong nước, đội ngũ Việt Nam vẫn cần tham gia xác định yêu cầu, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá kết quả.
Cùng với các dự án vệ tinh và hạ tầng, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam cần duy trì nghiên cứu và phát triển các công nghệ tiên tiến phù hợp với năng lực, định hướng của Việt Nam. Đây là nền tảng để nâng cao năng lực nghiên cứu, chuẩn bị cho các thế hệ vệ tinh tiếp theo, chủ động đáp ứng những nhiệm vụ mới và mở rộng hợp tác nghiên cứu ở cấp độ khu vực, quốc tế.
Xin trân trọng cảm ơn ông!