Hành lang pháp lý cho khoa học và công nghệ đã được thiết kế theo hướng chấp nhận rủi ro, trao quyền và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để các quy định ấy thực sự đi vào cuộc sống, không chỉ cần luật, mà còn cần niềm tin và sự chủ động của đội ngũ nhà khoa học trong việc bước ra khỏi “vùng an toàn”.

Trong thời gian qua, Bộ KH&CN đã xây dựng, tham mưu các cấp có thẩm quyền ban hành một khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật, luật và nghị định mới liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhằm cụ thể hóa và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tâm lý chần chừ, do dự, sợ sai vẫn là rào cản lớn khiến nhiều nhà khoa học chưa dám bước ra khỏi “vùng an toàn” quen thuộc, dù không ít điểm nghẽn về thể chế đã và đang được tháo gỡ.
Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ KH&CN) cho biết, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các nghị định hướng dẫn thi hành, đặc biệt là các nghị định liên quan đến quản trị rủi ro như Nghị định 267, đã quy định khá chi tiết và đầy đủ về cách tiếp cận, phân loại và quản trị rủi ro trong hoạt động khoa học công nghệ.
Trong đó, rủi ro được phân loại rõ ràng: Rủi ro gây thiệt hại cho Nhà nước nhưng được chấp nhận trong nghiên cứu khoa học; rủi ro dẫn đến kết quả không đạt mục tiêu ban đầu đề ra; cũng như cơ chế quản trị rủi ro xuyên suốt từ khâu đề xuất nhiệm vụ, triển khai thực hiện đến đánh giá kết quả.
Đáng chú ý, theo quy định hiện hành, nhiệm vụ khoa học công nghệ không đạt mục tiêu đề ra không đồng nghĩa với việc phải hoàn trả kinh phí, nếu việc thực hiện tuân thủ đúng quy trình, quy định. Dù kết quả không như kỳ vọng ban đầu, nhưng vẫn được đánh giá, ghi nhận, bởi trong khoa học, mọi kết quả kể cả thất bại đều là bài học có giá trị.
Bên cạnh đó, các quy định cũng đã đề cập đến việc miễn trách nhiệm dân sự, thậm chí trách nhiệm hình sự đối với tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học công nghệ khi thực hiện đúng quy định, quy trình. Đây là những “lưới an toàn” quan trọng nhằm bảo vệ nhà khoa học trước những rủi ro mang tính khách quan.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Anh Tú, bên cạnh những điểm nghẽn về thể chế đã và đang được tháo gỡ, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay lại nằm ở tâm lý của chính các nhà khoa học. Dù hành lang pháp lý đã mở, nhưng tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm vẫn còn khá nặng nề.
Để tháo gỡ nút thắt này, Bộ KH&CN xác định một loạt giải pháp sẽ được triển khai ngay trong thời gian tới, đặc biệt trong năm 2026. Giải pháp đầu tiên và mang tính nền tảng là tăng cường minh bạch.
Theo đó, Bộ KH&CN đã xây dựng và đưa vào vận hành nền tảng số quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Tất cả các khâu, từ đăng ký nhiệm vụ, xét duyệt, triển khai, giám sát đến đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ đều được thực hiện trên nền tảng số. Đây được coi là một bước tiến quan trọng, giúp tăng cường tính công khai, minh bạch, giảm thiểu rủi ro trong quản lý và thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ.
“Khi mọi thứ minh bạch, chúng ta không còn gì phải ngại”, ông Hoàng Anh Tú nhấn mạnh. Minh bạch không chỉ bảo vệ cơ quan quản lý mà quan trọng hơn là tạo niềm tin cho nhà khoa học.
Giải pháp thứ hai là quản trị rủi ro liên tục, thay vì chỉ đánh giá ở khâu cuối cùng. Ngay từ khi đề xuất nhiệm vụ, các tổ chức chủ trì và nhà khoa học đã phải nhận diện rủi ro, dự báo các tình huống có thể xảy ra và đề xuất biện pháp xử lý. Trong quá trình triển khai, cơ quan quản lý sẽ giám sát liên tục, đồng hành, hỗ trợ để định hướng và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
Giải pháp thứ ba mang tính đột phá là làm điểm các nhiệm vụ có rủi ro cao. Trong các chương trình công nghệ chiến lược, chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia (KC), chương trình khoa học xã hội nhân văn (KX), Bộ KH&CN sẽ lựa chọn một số nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao để thí điểm cơ chế mới. Thông qua đó, vừa tạo “không gian thử nghiệm” cho nhà khoa học, vừa rút kinh nghiệm hoàn thiện chính sách.
Cùng với đó, Bộ sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, giải thích luật, giải thích quy định một cách thường xuyên, liên tục, giúp đội ngũ trí thức, nhà khoa học hiểu đúng và đầy đủ hơn về các cơ chế, chính sách mới.
Ở góc độ quản lý, Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương cũng cho rằng, thời gian qua, Bộ đã xây dựng rất nhiều hành lang pháp lý mới, với trọng tâm là trao quyền, tăng tự chủ cho nhà khoa học: tự chủ về học thuật, tham gia khai thác, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hưởng lợi chính đáng từ thành quả lao động sáng tạo.
Tuy nhiên, Thứ trưởng thẳng thắn nhìn nhận: “Cơ chế, chính sách ban hành rồi nhưng nhiều người vẫn chưa dám làm”. Theo ông, vấn đề không chỉ nằm ở chính sách, mà còn ở công tác tạo niềm tin, làm tư tưởng, định hướng xã hội đối với đội ngũ trí thức. Bản thân các nhà khoa học cũng cần tin tưởng vào chính sách, chủ động vượt qua vùng an toàn của mình.
Một minh chứng rõ nét là các cơ chế thu hút tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã được ban hành, không chỉ ở Bộ KH&CN mà cả Bộ Nội vụ. Thế nhưng đến nay, hầu như chưa có nhà khoa học nào chủ động ứng cử đảm nhận vai trò này. Điều đó cho thấy tâm lý e ngại vẫn còn rất lớn.
Từ thực tế đó, Bộ KH&CN đang chuyển sang cách tiếp cận chủ động hơn. Thay vì chờ nhà khoa học, doanh nghiệp đề xuất, Bộ sẽ chủ động tìm kiếm ý tưởng, chủ động triển khai thí điểm.
Ví dụ, trong mô hình sandbox công nghệ, Bộ KH&CN đã chủ động phối hợp với tỉnh Điện Biên, trao đổi trực tiếp với doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để triển khai thí điểm, thay vì chờ đề xuất từ phía cơ sở. Hay thông qua các cuộc thi công nghệ, như cuộc thi AI thực chiến, Bộ sẽ lựa chọn các ý tưởng tiềm năng chưa hoàn thiện sản phẩm và tài trợ trực tiếp để hoàn thiện thành sản phẩm cuối cùng.
Theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, nếu chỉ chờ đợi thì rất khó để nhà khoa học tự bước ra khỏi vùng an toàn. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, Bộ KH&CN sẽ phải đóng vai trò “kéo” nhà khoa học ra, tạo điều kiện để họ dám thử, dám làm.
Bước ra khỏi vùng an toàn là một quá trình không dễ dàng. Nhưng nếu không vượt qua rào cản tâm lý này, những đột phá khoa học công nghệ mà đất nước kỳ vọng sẽ rất khó trở thành hiện thực. Với những giải pháp đang được triển khai, cùng cách tiếp cận chủ động hơn, kỳ vọng rằng giai đoạn tới sẽ chứng kiến những chuyển động thực chất, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển.