Các khoản thu dịch vụ ăn uống, phục vụ bán trú được quy định theo từng cấp học và địa bàn, trong đó mức thu được xác định theo ngày, tháng hoặc năm.

TPHCM vừa ban hành các khoản thu và mức thu phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo tại các cơ sở giáo dục công lập.
Trong số này, khoản thu liên quan đến học sinh ăn bán trú gồm dịch vụ ăn uống, bán trú, nội trú, được chia thành hai nhóm: dịch vụ ăn uống và dịch vụ phục vụ bán trú.
Mức thu được áp dụng theo hai nhóm học sinh thuộc các địa bàn, gồm các cơ sở giáo dục trên địa bàn phường và các cơ sở giáo dục trên địa bàn xã, đặc khu.
Mức thu tại các trường thuộc phường
Tại các trường thuộc phường, mức trần suất ăn sáng với mỗi học sinh là 20.000 đồng/ngày đối với mầm non chuyên biệt và tiểu học. Bậc THCS, THPT không thực hiện dịch vụ này.
Suất ăn trưa, xế có mức trần 40.000 đồng/ngày đối với mầm non chuyên biệt, tiểu học, THCS và THPT.
Tiền nước uống được quy định ở mức 20.000 đồng/tháng.
Đối với nhóm dịch vụ phục vụ bán trú, mức trần dịch vụ phục vụ ăn sáng là 220.000 đồng/tháng đối với mầm non chuyên biệt và 60.000 đồng/tháng đối với tiểu học.
Khoản tổ chức phục vụ, quản lý và vệ sinh bán trú có mức trần lần lượt 550.000 đồng/tháng đối với mầm non chuyên biệt, 350.000 đồng đối với tiểu học, 300.000 đồng đối với THCS và 250.000 đồng đối với THPT.
Riêng dịch vụ nhân viên nuôi dưỡng, mức thu là 260.000 đồng/tháng đối với mầm non chuyên biệt.
Khoản thiết bị, vật dụng phục vụ học sinh bán trú được quy định theo năm, với mức 450.000 đồng đối với mầm non chuyên biệt, 220.000 đồng đối với tiểu học, 200.000 đồng đối với THCS và 200.000 đồng đối với THPT.

Trường thuộc xã, đặc khu áp dụng mức thu thế nào?
Đối với các cơ sở giáo dục thuộc xã, đặc khu, mức trần suất ăn sáng với mỗi học sinh vẫn là 20.000 đồng/ngày đối với mầm non chuyên biệt và tiểu học.
Suất ăn trưa, xế có mức trần 40.000 đồng/ngày đối với mầm non chuyên biệt, tiểu học, THCS và THPT.
Tiền nước uống là 20.000 đồng/tháng.
Ở nhóm dịch vụ phục vụ bán trú, dịch vụ phục vụ ăn sáng có mức trần 200.000 đồng/tháng đối với mầm non chuyên biệt và 50.000 đồng/tháng đối với tiểu học.
Khoản tổ chức phục vụ, quản lý và vệ sinh bán trú có mức trần 500.000 đồng/tháng đối với mầm non chuyên biệt, 320.000 đồng đối với tiểu học, 280.000 đồng đối với THCS và 230.000 đồng đối với THPT.
Dịch vụ nhân viên nuôi dưỡng được quy định ở mức 260.000 đồng/tháng đối với mầm non chuyên biệt.
Đối với thiết bị, vật dụng phục vụ học sinh bán trú, mức thu theo năm lần lượt là 400.000 đồng đối với mầm non chuyên biệt, 200.000 đồng đối với tiểu học, 200.000 đồng đối với THCS và 200.000 đồng đối với THPT.

Nguyên tắc thu chi
Theo quy định, các khoản trên là mức trần, tức mức cao nhất. Mỗi cơ sở giáo dục căn cứ điều kiện thực tế để xây dựng mức thu cụ thể.
Các khoản thu được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, có sự đồng thuận của cha mẹ học sinh, người học; lấy thu bù chi và không được vượt quá mức trần quy định.
Cơ sở giáo dục có trách nhiệm xây dựng dự toán chi tiết cho từng nội dung thu, bảo đảm nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và nhu cầu của người học.
Trường hợp một nội dung đã được ngân sách Nhà nước hỗ trợ hoặc được bố trí từ nguồn kinh phí khác, mức thu phải được giảm trừ sau khi tính toán phần kinh phí đã được bố trí trong dự toán của đơn vị.
Khi kết thúc năm học, nếu các khoản thu dịch vụ có chênh lệch thu lớn hơn chi, cơ sở giáo dục phải hoàn trả phần chênh lệch cho người học.
Ngược lại, nếu thu nhỏ hơn chi, cơ sở giáo dục phải tính toán bù đắp khoản thiếu hụt bằng các nguồn kinh phí hợp pháp của đơn vị, không được thu thêm từ người học và ngân sách Nhà nước không cấp bù.