UBND tỉnh Quảng Ninh vừa có báo cáo gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo về một số chính sách giáo dục đặc thù, tiêu biểu của tỉnh.
Theo báo cáo, Quảng Ninh đang triển khai 10 chính sách nổi bật sau:
Hỗ trợ sữa uống miễn phí tại trường cho toàn bộ trẻ em mầm non và học sinh tiểu học
Trẻ em nhà trẻ từ đủ 6 tháng tuổi được uống 110 ml sữa/ngày; trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học được uống 180 ml sữa/ngày, theo số ngày học thực tế nhưng không quá 175 ngày/năm học.
Năm 2026, chính sách hỗ trợ 197.277 lượt trẻ em, học sinh tại cả cơ sở công lập và tư thục, gồm 18.226 trẻ nhà trẻ, 58.740 trẻ mẫu giáo và 120.311 học sinh tiểu học; tổng kinh phí trên 290,1 tỷ đồng.

Cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên
Sớm cụ thể hóa nhiệm vụ “phấn đấu tới năm 2030 cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh” tại Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngay từ năm học 2026-2027 khi toàn quốc thống nhất một bộ sách giáo khoa, tỉnh triển khai cấp miễn phí sách giáo khoa cho học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên theo hình thức mua sắm, trang bị tại cơ sở giáo dục để học sinh mượn, sử dụng trong năm học; kinh phí thực hiện khoảng 147 tỷ đồng cho trên 290 nghìn học sinh, học viên.
Tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai các điều kiện cần thiết để bảo đảm sách giáo khoa đến với học sinh, giáo viên trước ngày 15/8/2026 theo đúng chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ, không để việc cung cấp sách giáo khoa ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị năm học mới.
Hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số, miền núi, xã đảo và nhóm yếu thế, ưu tiên
Kế thừa các chính sách hỗ trợ ăn trưa, bán trú đã được tỉnh triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua, Nghị quyết số 93/2025/NQ-HĐND tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng nâng mức hỗ trợ, mở rộng địa bàn và đối tượng thụ hưởng.
Trẻ em mầm non thường trú ở 24 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đảo, 49 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc 8 xã khác; và trẻ em thuộc diện chính sách được hỗ trợ tiền ăn trưa mức 360.000 đồng/trẻ/tháng. Khoảng 18.600 trẻ/năm học được hỗ trợ với kinh phí khoảng 74 tỷ đồng; 44 cơ sở giáo dục mầm non được hỗ trợ kinh phí chi trả nhân viên nấu ăn, điện, nước, tổng kinh phí khoảng 24,7 tỷ đồng.
Học sinh tiểu học đảm bảo điều kiện tương tự như trên được hỗ trợ 400.000 đồng/học sinh/tháng. Khoảng 18.300 học sinh/năm học được thụ hưởng với kinh phí khoảng 65,8 tỷ đồng; 72 cơ sở giáo dục được hỗ trợ kinh phí phục vụ nấu ăn, quản lý học sinh, điện, nước, tổng kinh phí khoảng 23,6 tỷ đồng.
Các chính sách nêu trên hỗ trợ khoảng 36.900 trẻ em, học sinh, 116 cơ sở giáo dục, với tổng kinh phí khoảng 188,1 tỷ đồng/năm học.
Hỗ trợ tổ chức dạy học, chăm sóc trẻ mầm non trong thời gian hè
Các cơ sở giáo dục mầm non công lập tại 24 xã đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và xã đảo được hỗ trợ tổ chức dạy học, chăm sóc trẻ trong thời gian hè, theo định mức 1.125.000 đồng/ngày/30 trẻ mẫu giáo hoặc 20 trẻ nhà trẻ, thời gian không quá 2 tháng/năm.
Có 44 cơ sở giáo dục mầm non được hỗ trợ, tổng kinh phí khoảng 33,1 tỷ đồng/năm học.
Hỗ trợ ăn, ở tập trung và tổ chức đưa đón học sinh, học viên khó khăn
Đối với trường hợp ăn, ở tập trung, mức hỗ trợ là 936.000 đồng/người học/tháng; khoảng 7.100 người học/năm học được thụ hưởng, kinh phí khoảng 60,1 tỷ đồng. Tỉnh đồng thời hỗ trợ 51 cơ sở giáo dục kinh phí nấu ăn, quản lý học sinh, điện, nước, khoảng 24,1 tỷ đồng.
Tại địa bàn không đủ điều kiện tổ chức ăn, ở tập trung, mức hỗ trợ đưa đón tối đa là 510.000 đồng/tháng đối với học sinh tiểu học, 620.000 đồng/tháng đối với học sinh trung học cơ sở và 730.000 đồng/tháng đối với học sinh trung học phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên; giáo viên, nhân viên trực tiếp đưa đón được hỗ trợ 2.340.000 đồng/tháng/15 học sinh.
Có khoảng 1.000 người học và 70 giáo viên, nhân viên được thụ hưởng, kinh phí khoảng 7,8 tỷ đồng/năm học.
Tổng kinh phí của nhóm chính sách khoảng 92 tỷ đồng/năm học; chính sách góp phần giảm nguy cơ học sinh nghỉ học, bỏ học do khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông; giúp các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, xã đảo duy trì sĩ số, tổ chức dạy học ổn định, nền nếp và nâng cao chất lượng giáo dục.
Trợ giúp trẻ em, học sinh không có nguồn nuôi dưỡng
Người học thuộc diện trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, khi đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học văn hóa, học nghề, trung cấp, cao đẳng hoặc đại học văn bằng thứ nhất, được tiếp tục hưởng trợ giúp cho đến khi kết thúc quá trình học nhưng không quá 22 tuổi.
Mức chuẩn trợ cấp xã hội của tỉnh là 700.000 đồng/tháng; trường hợp đủ 16 tuổi tiếp tục đi học được hưởng hệ số 1,5 tương đương 1.050.000 đồng/tháng.
Chính sách không chỉ bảo trợ trong độ tuổi trẻ em mà còn tạo điểm tựa để các em tiếp tục học tập, có nghề nghiệp, khả năng tự lập và hòa nhập xã hội bền vững.
Hỗ trợ học phí cho học sinh, học viên trung học phổ thông thuộc nhóm yếu thế
Người học thuộc nhóm yếu thế, ưu tiên và một số trường hợp đặc thù đang học tại cơ sở giáo dục tư thục được hỗ trợ bằng mức học phí thực tế phải đóng, nhưng không quá 936.000 đồng/học sinh, học viên/tháng, thời gian không quá 9 tháng/năm học.
Khoảng 800 học sinh, học viên/năm học được thụ hưởng, tổng kinh phí khoảng 6,5 tỷ đồng.
Chính sách có ý nghĩa thiết thực trong điều kiện tỷ lệ học sinh trung học phổ thông học tại cơ sở tư thục của tỉnh ở mức cao, bảo đảm người học không bị hạn chế cơ hội học tập do hoàn cảnh kinh tế, gia đình hoặc nơi cư trú.

Hỗ trợ 100% kinh phí đóng bảo hiểm bắt buộc cho đội ngũ mầm non dân lập, tư thục
Tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên và nhân viên y tế đang làm việc tại cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục, tính theo mức lương tối thiểu vùng, bao gồm cả phần trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động.
Hằng năm có trên 1.000 người được hỗ trợ, tổng kinh phí khoảng 13 tỷ đồng. Chính sách tập trung vào yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục mầm non là đội ngũ trực tiếp quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ; qua đó góp phần thúc đẩy xã hội hóa giáo dục mầm non, bảo đảm an sinh cho người lao động, ổn định đội ngũ và chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục và xã hội trong phát triển giáo dục mầm non.
Thưởng đến 700 triệu đồng cho học sinh đoạt giải quốc tế; học sinh dân tộc thiểu số ở địa bàn khó khăn được thưởng 1,5 lần
Quảng Ninh tiếp tục duy trì và nâng mức thưởng đối với học sinh đoạt giải tại các kỳ thi, cuộc thi học sinh giỏi, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cấp tỉnh, cấp quốc gia, Olympic khu vực và quốc tế.
Đây là chính sách có tính nhận diện cao của tỉnh trong phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, sáng tạo của học sinh.
Học sinh đoạt giải được thưởng theo cấp độ: cấp tỉnh từ 1-3,5 triệu đồng; cấp quốc gia từ 20-70 triệu đồng; cấp khu vực từ 100-500 triệu đồng; cấp quốc tế từ 200-700 triệu đồng, trong đó mức cao nhất 700 triệu đồng áp dụng đối với học sinh đoạt giải cao nhất tại kỳ thi quốc tế.
Giáo viên trực tiếp bồi dưỡng được thưởng bằng 50% mức thưởng của học sinh. Học sinh là người dân tộc thiểu số thường trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hoặc xã đảo được hưởng mức thưởng bằng 1,5 lần mức chung; trường hợp đoạt giải cao nhất cấp quốc tế, mức thưởng là 1,05 tỷ đồng.
Mỗi năm học, chính sách dự kiến hỗ trợ khoảng 4.500 lượt học sinh, giáo viên, kinh phí khoảng 13,6 tỷ đồng.
Chính sách tạo động lực đủ mạnh để phát hiện, bồi dưỡng nhân tài từ sớm, đồng thời kết hợp phát triển giáo dục mũi nhọn với mở rộng cơ hội vươn lên cho học sinh dân tộc thiểu số ở địa bàn khó khăn.
Hỗ trợ bồi dưỡng học sinh giỏi và thực hiện chính sách ưu đãi đối với Trường THPT chuyên Hạ Long
Nội dung hỗ trợ bồi dưỡng 11 đội tuyển học sinh giỏi của tỉnh, gồm tiền công giáo viên thỉnh giảng là 1.000.000 đồng/giờ dạy; giáo viên của tỉnh tham gia tập huấn được hưởng 500.000 đồng/giờ dạy; tiền ăn giáo viên thỉnh giảng 200.000 đồng/người/ngày; tiền ăn học sinh tập huấn tập trung 150.000 đồng/học sinh/ngày; tiền đi lại cho giáo viên thỉnh giảng.
Kinh phí thực hiện khoảng 6,5 tỷ đồng/năm học. Đối với Trường THPT chuyên Hạ Long, học sinh có kết quả tuyển sinh xuất sắc vào 11 lớp chuyên được thưởng 10 triệu đồng/học sinh; 50% học sinh của trường, tương đương khoảng 630 em, được cấp học bổng từ 570.000 đồng đến 3,8 triệu đồng/tháng.
Học sinh ở xa trường từ 15 km trở lên được hỗ trợ tiền ăn 936.000 đồng/tháng và bố trí ở miễn phí tại ký túc xá.
Tỉnh bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ đặc thù của trường bằng 30% kinh phí chi hoạt động thường xuyên; tổng kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi khoảng 8,0 tỷ đồng/năm học.
Chính sách mới trong năm học 2026 - 2027
Tiếp tục hiện đại hóa điều kiện học tập, bảo đảm an toàn cho học sinh và thúc đẩy chuyển đổi xanh trong trường học, tỉnh Quảng Ninh đang tập trung nghiên cứu, triển khai một số chính sách mới trong năm học 2026-2027 như:
Thí điểm đưa đón học sinh đến trường bằng xe buýt điện
Tỉnh dự kiến thí điểm tổ chức đưa đón học sinh đến trường bằng xe buýt điện tại địa bàn các phường Hạ Long, Hà Tu, Hồng Gai; đặc khu Cô Tô và 5 trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền gồm Bình Liêu, Lục Hồn, Hoành Mô, Đường Hoa và Quảng Đức.
Sau thời gian thí điểm, tỉnh sẽ tổng kết, đánh giá để xem xét nhân rộng phù hợp với điều kiện thực tế.
Lắp đặt điện mặt trời mái nhà và trang bị điều hòa phòng học
Tỉnh dự kiến lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tại các cơ sở giáo dục công lập đủ điều kiện, cùng với trang bị điều hòa cho các phòng học nhằm cải thiện điều kiện dạy và học, giảm ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng đến sức khỏe và khả năng tập trung của học sinh; khai thác nguồn năng lượng sạch, tiết kiệm chi phí vận hành và từng bước xây dựng trường học xanh, hiện đại.