Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, câu hỏi về vai trò của con người trong xã hội hiện đại được đặt ra rõ nét hơn bao giờ hết.

Cùng đó, sức khỏe tinh thần trở thành mối quan tâm cấp thiết, đặc biệt ở giới trẻ. Chính trong bối cảnh này, Tâm lý học nổi lên như ngành học giàu tính nhân văn, có tính ứng dụng cao, nhu cầu nhân lực lớn.
Sinh viên ngành Tâm lý học có thể lựa chọn các định hướng chuyên sâu như tâm lý học tham vấn - trị liệu hoặc tâm lý học tổ chức - nhân sự. Bên cạnh các học phần đại cương thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn, chương trình đào tạo trang bị hệ thống kiến thức chuyên ngành như kỹ năng tham vấn tâm lý, tâm lý học quản lý, tâm bệnh học phát triển, can thiệp và trị liệu tâm lý trẻ em, tư duy phản biện… Qua đó, người học hình thành nền tảng kiến thức tổng quát về khoa học tâm lý, đồng thời phát triển năng lực ứng dụng trong nhiều bối cảnh nghề nghiệp khác nhau.
Tại các trường đại học, điểm chuẩn ngành Tâm lý học biến động theo từng năm và cơ sở đào tạo, cho thấy mức độ cạnh tranh cao của ngành học này. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) ghi nhận mức điểm chuẩn theo phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2025 ở ngành này dao động từ 24,4 đến 27,75 điểm (tùy tổ hợp). Tại Trường Đại học Sư phạm TPHCM, ngành Tâm lý học năm 2025 có điểm trúng tuyển theo phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT là 28 (tổ hợp D01).
Với phương thức kết hợp kết quả kỳ thi đánh giá năng lực chuyên biệt, điểm trúng tuyển đạt 28,08 điểm, dẫn đầu điểm chuẩn các ngành ngoài sư phạm. Với các trường đại học ngoài công lập như Trường Đại học Hùng Vương TPHCM, Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Công nghệ TPHCM, điểm chuẩn ngành Tâm lý học phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT dao động từ 15 đến 20 điểm, phản ánh sự đa dạng về cơ hội theo học ở cả khối trường công lập và ngoài công lập.

Từ thực tiễn làm việc trong lĩnh vực tâm lý và giáo dục, ThS Trần Thị Ngọc Tuyền - chuyên gia Tâm lý lâm sàng cho rằng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần, đặc biệt ở giới trẻ, đang gia tăng nhanh và phức hợp hơn. Áp lực không chỉ đến từ học tập hay nghề nghiệp mà còn xuất phát từ so sánh xã hội, nỗi sợ bị bỏ lỡ và sự hiện diện liên tục của công nghệ, mạng xã hội trong đời sống cá nhân.
Theo ThS Tuyền, AI và công nghệ mở ra nhiều cơ hội kết nối, song cũng làm gia tăng cảm giác cô đơn, mất phương hướng và khủng hoảng bản sắc ở người trẻ. Nhiều em chủ động tìm kiếm hỗ trợ tâm lý sớm hơn, nhưng dễ nhầm lẫn giữa việc “tự hỗ trợ” thông qua các công cụ công nghệ với quá trình trị liệu đúng nghĩa do chuyên gia được đào tạo bài bản thực hiện.
Ở góc độ nghề nghiệp, bà nhận định AI có thể hỗ trợ hiệu quả trong các khâu như sàng lọc ban đầu, cung cấp thông tin tâm lý cơ bản, nhắc nhở thực hành chăm sóc cảm xúc, theo dõi thói quen hoặc hỗ trợ tự phản tư. Tuy nhiên, những công việc cốt lõi như đánh giá lâm sàng, xây dựng mối quan hệ trị liệu, can thiệp sang chấn, xử lý khủng hoảng tâm lý hay các tình huống liên quan đến an toàn thân - tâm bắt buộc phải do nhà tâm lý lâm sàng đảm nhiệm. “Trị liệu không chỉ là kỹ thuật, mà là sự hiện diện người với người - điều mà AI không thể thay thế”, ThS Tuyền nhấn mạnh.
Theo chuyên gia này, ngành Tâm lý học đang trở thành lĩnh vực có nhu cầu nhân lực lớn khi xã hội ngày càng nhận thức rõ vai trò của sức khỏe tinh thần đối với chất lượng sống. Hiện Việt Nam thiếu nghiêm trọng nhân lực ở các mảng như tâm lý lâm sàng, tâm lý học đường, tham vấn gia đình, hôn nhân, can thiệp sớm cho trẻ em và tâm lý tổ chức, doanh nghiệp. Đặc biệt, thị trường lao động đòi hỏi đội ngũ có năng lực thực hành, đạo đức nghề nghiệp và khả năng làm việc liên ngành.
Từ góc độ đào tạo và nghiên cứu, TS Giang Thiên Vũ - giảng viên Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm TPHCM cho rằng có ba năng lực cốt lõi mà AI rất khó, thậm chí không thể thay thế trong lĩnh vực Tâm lý học.
Thứ nhất là năng lực thấu cảm chiều sâu, tức khả năng đồng hiện với trải nghiệm của con người trong bối cảnh văn hóa, gia đình và lịch sử cá nhân cụ thể. Thứ hai là năng lực phán đoán đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp, bởi mọi quyết định trong giáo dục, trị liệu hay nhân sự đều gắn với con người và hệ quả thật. Việc cân nhắc nên và không nên làm gì, làm đến đâu là đủ đòi hỏi nền tảng giá trị và trách nhiệm mà AI không thể thay con người đảm nhận. Thứ ba là năng lực can thiệp linh hoạt trong các tình huống phức hợp.
“Con người không vận hành theo mô hình tuyến tính. Trong tham vấn, giáo dục hay quản trị con người luôn tồn tại những yếu tố bất ngờ, cảm xúc mâu thuẫn và xung đột ngầm. Nhà tâm lý học giỏi là người đọc được điều chưa nói, điều chỉnh chiến lược ngay trong quá trình tương tác - điều này vượt xa khả năng xử lý thuật toán”, TS Vũ cho biết.
TS Giang Thiên Vũ dự báo trong 5 - 10 năm tới, nhu cầu nhân lực ngành Tâm lý học sẽ tiếp tục mở rộng theo hướng liên ngành và ứng dụng. Nổi bật là các lĩnh vực tâm lý học học đường và sức khỏe tinh thần trẻ em - thanh thiếu niên; tâm lý học tổ chức - nhân sự chú trọng sức khỏe tinh thần người lao động; tâm lý học ứng dụng công nghệ, nơi nhà tâm lý đóng vai trò định hướng, thiết kế, giám sát các giải pháp vì con người thay vì bị AI thay thế.
“Kiến thức và kỹ năng của ngành Tâm lý học có khả năng ứng dụng rất rộng ngoài trị liệu. Trong quản trị nhân sự và quản lý, tâm lý học giúp hiểu động lực con người, xây dựng văn hóa tổ chức, tuyển dụng, đào tạo, giữ chân nhân sự, quản lý xung đột và nâng cao hiệu suất làm việc. Ở các vị trí hành chính, quản lý giáo dục hay lãnh đạo, nền tảng tâm lý giúp người làm nghề đưa ra quyết định nhân văn hơn, giao tiếp hiệu quả hơn và dẫn dắt con người thay vì chỉ quản lý quy trình”, ThS Trần Thị Ngọc Tuyền - chuyên gia Tâm lý lâm sàng cho biết.